vanban.org

Bản án 08/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 14/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Công P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Đinh Công P 03 (ba) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Đinh Công Phú - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Công P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁNNHÂN DÂN
HUYỆN ĐẠI LỘC
TỈNH QUẢNG NAM
***
Bản án số: 08/2019/HS-ST
Ngày 14/6/2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC

- Thành phần H đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phượng

Các H thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Công Hiền

- Ông Võ Văn Sinh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Linh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Thu- Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 04 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Công P, tên gọi khác: Cu Đùm; sinh ngày 06/5/1992; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Y, xã I, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa:11/12; dân tộc: kinh ; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn S (sinh năm 1968) và bà Nguyễn Thị Ngọc U (SN 1973); gia đình có 02 anh em, bị cáo là đầu trong gia đình; Vợ Dương Thị Anh Đài, có 01 con sinh năm 2015; tiền sự: chưa, tiền án: ngày 22/3/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 2 (Điểm a Khoản 1) Điều 104 BLHS năm 1999. Chấp hành xong án phạt ngày 07/10/2017; nhân thân: ngày 19/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015; hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Đại Lộc, có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1.

Chị Lê Thị Thư T, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Trú tại: số 111 Nguyễn Huệ, phường H, tp M, tỉnh M 2.

Anh Lê Viết H, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Trú tại: Khu K, thị trấn N, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

- Ngƣời làm chứng: 1.

Anh Lê Phước V, sinh năm 1977 (có mặt).

Trú tại: Khu A, thị trấn N, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 0 giờ 30 Pt ngày 27/11/2018, Đinh Công P ở tại phòng trọ của mình (khu vực Cầu Đỏ, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng) sử dụng điện thoại hiệu Iphone 5 bên trong có gắn sim số 0369.197.204 gọi điện thoại cho một người tên Anh (không xác định được nhân thân, lai lịch) ở thành phố Đà Nẵng để hỏi mua ma túy đá. Người thanh niên này đồng ý bán ma túy cho P. Khoảng một giờ đồng hồ sau người thanh niên này đến trước phòng trọ của P để bán cho P 01 gói ma túy với giá tiền là 3.600.000 đồng và kèm theo là 05 ống U tinh để sử dụng ma túy. Sau khi mua xong, P đem gói ma túy vào phòng trọ và phân gói ma túy ra thành 03 gói nhỏ nhằm mục đích để dành sử dụng rồi cất giấu 03 gói ma túy này cùng với dụng cụ để sử dụng ma túy (05 ống U tinh) trong túi xách hiệu JIANWANG FASHION của mình rồi đi ngủ. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày P thức dậy và gọi điện thoại cho chị Lê Thị Thư T để nhờ chị T chở P về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì chị T đến. Lúc này, P lấy túi xách có chứa 03 gói ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy mà mình đã cất giấu mang vào người rồi sử dụng xe mô tô biển số 82B1-410.57 của chị T để chở chị T đi về nhà của P tại thôn Y, xã I, huyện Đại Lộc. Trên đường đi về thì Lê Viết H (SN: 1988, trú tại khu K, thị trấn N) gọi điện cho P nói đang ở nhà nghỉ Đồng Xanh (thuộc khu Trung An, thị trấn N) và hỏi có ma túy không để vào nhà nghỉ Đồng Xanh cùng nhau sử dụng. P đồng ý rồi chở T đến nhà nghỉ Đồng Xanh. Đến khoảng 15 giờ 45 Pt, P chở T đến nơi. Lúc này, P bảo T ở bên ngoài đợi còn P đi đến phòng số 8 nhà nghỉ Đồng Xanh để gặp H nhằm mục đích cùng sử dụng ma túy. Khi P vừa mở cửa bước vào phòng của H thì bị Công an huyện Đại Lộc kiểm tra, phát hiện túi xách của P đang mang trong người có 03 gói ma túy và 05 ống U tinh là dụng cụ để sử dụng ma túy nên tiến hành bắt quả tang đối với Đinh Công P. (BL:27-29, 37-53, 83-90, 93-99, 102-112)

Vật chứng thu giữ gồm:

- 03 gói nilon (trong đó 01 gói có kích thước 0,1 x 0,4 cm; 01 gói có kích thước 0,1 x 0,5 cm; 01 gói có kích thước 0,5 x 0,8 cm) bên trong mỗi gói có chứa chất dạng tinh thể màu trắng, nghi là chất ma túy, thu giữ trong túi xách Đinh Công P đang mang trong người. 03 gói nilon bên trong nghi là chất ma túy nói trên được gởi đến Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng để giám định và đã hoàn lại đối tượng giám định là mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 927/C09C(Đ4).

- 05 (năm) ống U tinh màu trắng, mỗi ống có kích thước 0,5cm x 10cm, một đầu có dạng hình phễu;

- 01 (một) túi xách màu xanh nhãn hiệu JIANWANG FASHION, kích thước 20cm x 40cm;

- 01 (một) điện thoại di dộng iphone 5 màu đen – bạc (đã qua sử dụng, bể vỡ màn hình) bên trong có sim đăng ký số điện thoại 0369.197.204.

Tất cả vật chứng đã được niêm phong hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc quản lý.

Tại bản kết luận giám định số 927/C09C(Đ4) ngày 29/11/2018 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng đã kết luận: “Chất rắn màu trắng (dạng tinh thể) đựng trong 03 gói gói ni lông gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng mẫu 4,466 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 4,086 gam mẫu vật còn lại sau quá trình giám định và vỏ bao gói” (BL 22).

Quá trình điều tra, bị cáo Đinh Công P đã tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố nêu trên và xin H đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 08/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc truy tố bị cáo Đinh Công P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Đinh Công P từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Đề nghị áp dụng Điều 56 BLHS để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Đinh Công P.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng khai nhận nội dung vụ án như lời khai của bị cáo, phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình mà đã được Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, H đồng xét xử phổ biến về quyền, nghĩa vụ của mình trong từng giai đoạn tố tụng và tự khai báo về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, H đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung vụ án:

. Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đinh Công P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có tạ i hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.

H đồng xét xử có cơ sở xác định được: Lúc 15 giờ 45 Pt ngày 27/11/2018, tại nhà nghỉ Đồng Xanh thuộc khu Trung An, thị trấn N, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Đinh Công P cất giấu trong túi xách mà P đang mang trong người 03 gói ma túy loại Methamphetamine có tổng trọng lượng là 4,466 gam nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Đại Lộc phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật gồm: 03 gói nilon bên trong mỗi gói có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine; 05 ống U tinh màu trắng dùng để sử dụng ma túy; 01 túi xách màu xanh nhãn hiệu JIANWANG FASHION; 01 điện thoại di dộng iphone 5 bên trong có sim đăng ký số điện thoại 0369.197.204.

Do đó H đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đinh Công P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân củ a bị cáo thì thấy : Bị cáo P là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, hiểu biết pháp luật, biết rõ tác hại vô cùng nguy hiểm của chất ma tuý, biết rõ Nhà nước nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nếu vi phạm sẽ bị pháp luật trừng trị một cách nghiêm khắc nhưng bị cáo vì muốn sử dụng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà đã bất chấp các tác hại của chất ma tuý, sự lên án của xã H, sự nghiêm trị của pháp luật đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã H, xâm phạm trật tự an toàn xã H, gây nên sự bất ổn trong cộng đồng dân cư, gây ra sự hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Xét bị cáo P có tiền án, ngày 22/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 104 BLHS năm 1999, chấp hành xong án phạt ngày 07/10/2017, chưa được xóa án tích. Ngày 19/11/2018 bị TAND huyện Đại Lộc kết án về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015. Bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì ngày 27/11/2018 P lại tiếp tục phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo thể hiện bản chất bất chấp, xem thường pháp luật. Do đó cần phải trừng trị bị cáo một cách nghiêm khắc bằng cách áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã H một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã H.

Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nhận tội, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Bị cáo P đã tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự, có ông nội là Liệt sĩ Đinh Văn Chì; nên đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tổng hợp hình phạt: xét bị cáo P chưa chấp hành hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo bản án hình sự sơ thẩm số 27/HSST ngày 19/11/2018 của TAND huyện Đại Lộc. Vì vậy cần tổng hợp hình phạt của bản ản này và bản án hình sự số 27/HSST nêu trên buộc bị cáo P phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về các vấn đề khác:

Trong vụ án này, Đinh Công P có hành vi sử dụng xe mô tổ biển số 82B1-410.57 của Lê Thị Thư T và chở T đến nhà nghỉ Đồng Xanh để gặp Lê Viết H nhưng qua điều tra xác định Lê Thị Thư T không biết việc P tàng trữ trái phép chất ma túy và cũng không biết việc P đến nhà nghỉ Đồng Xanh để sử dụng ma túy nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với Lê Phước V (SN: 1977, trú: Khu A, thị trấn N, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) là người có trách nhiệm quản lý Nhà nghỉ Đồng Xanh. Do anh V không biết việc Đinh Công P có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đề cập là phù hợp.

Đối với Lê Viết H có hành vi gọi điện thoại để nhằm mục đích sử dụng chung với P nhưng qua điều tra xác định việc P mua và tàng trữ trái phép chất ma túy thì H không biết và không tham gia, qua kiểm tra bằng que thử nhanh để phát hiện việc sử dụng chất ma túy xác định H không sử dụng chất ma túy nên không có sơ sở để xử lý đối với Lê Viết H.

Ngoài ra, đối với người thanh niên tên Anh đã bán ma túy cho Đinh Công P ở trước phòng trọ của P tại khu vực Cầu Đỏ, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tách ra để điều tra, xử lý sau là phù hợp nên không đề cập.

- Về vật chứng: H đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 4,086 gam Methamphetamine còn lại sau quá trình giám định và vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì số 927/C09C(Đ4) của Phan Viện khoa học Kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng; 05 (năm) ống U tinh màu trắng, mỗi ống có kích thước 0,5cm x 10cm, một đầu có dạng hình phễu; 01 (một) túi xách màu xanh nhãn hiệu JIANWANG FASHION, kích thước 20cm x 40cm; và 01sim đăng ký số điện thoại 0369.197.204.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di dộng iphone 5 màu đen – bạc (đã qua sử dụng, bể vỡ màn hình).

(Tất cả vật chứng đã được niêm phong hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc quản lý)

Về án phí: Bị cáo P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 01 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Đinh Công P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS.

- Xử phạt: Bị cáo Đinh Công P 03 (ba) năm tù.

Tổng hợp hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự: Cộng với phần hình phạt 02 (Hai) năm tù giam bị cáo P chưa chấp hành tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/HSST ngày 19/11/2018 của TAND huyện Đại Lộc, buộc bị cáo Đinh Công P chấp hành hình phạt của hai bản án là 05 (năm) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 27/11/2018.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 46 Bộ luật hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 4,086 gam Methamphetamine còn lại sau quá trình giám định và vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì số 927/C09C(Đ4) của Phan Viện khoa học Kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng; 05 (năm) ống U tinh màu trắng, mỗi ống có kích thước 0,5cm x 10cm, một đầu có dạng hình phễu; 01 (một) túi xách màu xanh nhãn hiệu JIANWANG FASHION, kích thước 20cm x 40cm; và 01sim đăng ký số điện thoại 0369.197.204.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di dộng iphone 5 màu đen – bạc (đã qua sử dụng, bể vỡ màn hình (Tất cả vật chứng đã được niêm phong hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc quản lý)

- Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Công P phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Nam;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Đại Lộc;

- Chi cục THADS huyện Đại Lộc;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Hồng Phƣợng

HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Phƣợng

Cỡ chữ