- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!CẨM!GIÀNG! TỈNH!HẢI!DƯƠNG! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HSST Ngày 22/02/2019 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CẨM!GIÀNG,!TỈNH!HẢI!DƯƠNG!
Thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:!Ông Nguyễn Thiện Phán.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Hồng Hà, Ông Dương Văn Ngạn.
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Khương Thị Lơ - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2019/HSST ngày 31/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:!Nguyễn!Văn!Đ, sinh năm 1995. Nơi sinh: Xã LX, huyện BG, tỉnh HD. Nơi cư trú: thôn QD, xã TT, huyện CG, tỉnh HD; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ2 và bà Hà Thị N2; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/01/2019, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 15/01/2019 đến nay. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Xuân D, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Thôn HG, xã CV, huyện CG, tỉnh HD. Vắng mặt.
- Chị Lò Thị N, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Thôn QD, xã TT, huyện CG, tỉnh HD. Vắng mặt.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Đ khai nhận: Đ là người hay sử dụng ma túy đá. Chiều ngày 13/01/2019, Đ nhận được cuộc điện thoại của đối tượng tên là Phạm Văn T, sinh năm 1997, ở thôn PA, xã CA, huyện CG, tỉnh HD, nhờ lấy hộ gói ma túy đá T giấu ở phòng trọ của T để bán cho Nguyễn Xuân D với số tiền là 400.000 đồng, Đ đồng ý. Khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, D đến gặp Đ và hẹn đến
Trang 1 quán cơm Ngọc Hà ở ngã ba thôn Quý Dương, xã Tân Trường để giao ma túy và nhận tiền. Đến 19 giờ 25 phút cùng ngày, Đ đi bộ đến quán cơm Ngọc Hà và vứt gói ma túy cạnh tấm biển hiệu của quán cơm (với ý định sẽ nhận tiền của D trước rồi mới chỉ chỗ để ma túy để D ra lấy), rồi đi vào cửa quán cơm, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng phát hiện, bắt quả tang, thu vật chứng gồm: 01 gói nilon kích thước 2cmx2cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu XiaoMi Redmi 4A kèm theo sim số 0355195662 và sim số 0583227590.
Tại Kết luận giám định số: 84/KLGĐ-PC09 ngày 16/01/2019, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Văn Đ, gửi đến giám định có khối lượng là: 0,299 gam (không phẩy hai trăm chín chín gam), là loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra: Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, thừa nhận có cất giấu ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị bắt.
Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 31/01/2019, VKSND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình thừa nhận có cất giấu 01 túi ma túy, mục đích để bán với giá với giá 500.000 đồng thì bị bắt.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 25 đến 27 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 13/01/2019.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu, tiêu hủy 0,223 gam Methamphetamine trong 01 (một) phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số: 84/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương và 02 sim điện thoại; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động (theo Biên bản bàn giao).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự là 200.000 đồng.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định pháp luật. Tại
Trang 2 phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Hồi 19 giờ 25 phút ngày 13/01/2019, tại khu vực quán cơm Ngọc Hà, ở thôn Quý Dương, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép 0,299 gam, là loại Methamphetamine với mục đích bán cho đối tượng Nguyễn Xuân D thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức việc bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song để thu lợi và thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Nên hành vi bán 0,299 gam Methamphetamine của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an trên địa bàn địa phương. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhưng, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, buộc bị cáo phải chấp hành tù có thời hạn.
[4].Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5].Về vật chứng: 0,223gam Methamphetamine trong 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau khi giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, tịch thu cho tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu XiaoMi Raedmi 4A kèm theo sim số 0355195662 là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; còn sim 0583227590 tiêu hủy theo yêu cầu của bị cáo.
[6].Về các vấn đề khác:
Đối với anh Nguyễn Xuân D, quá trình điều tra xác định anh D có gọi điện thoại cho Đ hỏi mua ma túy, nhưng chưa thực hiện hành vi mua bán ma túy thì Đ đã bị bắt nên chưa đủ căn cứ xử lý.
Trang 3
Anh Nguyễn Quang T, theo Đ khai là người nhờ Đ bán ma túy cho D, quá trình điều tra anh T không thừa nhận và anh T xác định không quen biết D nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 26 ( hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 13/01/2019.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu, tiêu hủy 01(một) phong bì cùng mẫu vật hoàn lại sau giám định số: 84/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương (còn nguyên niêm phong), bên trong có chứa 0,223 g Methamphetamine và 01 sim số 0583227590. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu XiaoMi Redmi 4A, màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, có lắp sim số 0355195662.
(Vật chứng theo Biên bản bàn giao giữa Công an huyện Cẩm Giàng và Chi cục THA DS huyện cẩm giàng ngày 31/01/2019).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi!nhận:! - Bị cáo; - Công an huyện Cẩm Giàng; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Kim Chi – CA tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ.! Trang 4 | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!tòa! ! ! ! ! !!!!!!!Nguyễn!Thiện!Phán! |