- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Bảo T và đồng phạm phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…"
- Tòa quyết gì? hông chấp nh n kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình Bảo T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HSPT Ngày: 15-01-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Ngọc.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Cảnh và ông Lương Đức Dương
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Huế - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà:Bà Lê Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2018/HSPT ngày 18 tháng 12 năm 2018 đối với các bị cáo: Nguyễn Đình Bảo T, Nguyễn Văn M và Phạm Văn T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2018/HSST ngày 12 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Đình Bảo T (tên gọi khác: B), sinh năm 1993, tại tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Dạ V và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 08-11-2015 đến ngày 04-01-2016 được tại ngoại – Có m t.
2. Phạm Văn T, sinh năm: 1993, tại tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: Thôn Nam H, xã Nam Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: thợ nhôm kính; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị N; tiền án: không; tiền sự: về hành vi “Ném gạch, đá vào nhà, phương tiện người khác”; bị bắt tạm giam từ ngày 08-11-2015 đến ngày 04-01-2016 được tại ngoại - Có m t.
3. Bị cáo bị kháng cáo: Nguyễn Văn M - sinh năm: 1993, tại tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: Thôn Nam X, xã Nam Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh O và bà Trần Thị G; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 08-11-2015 đến ngày 04-01-2016 được tại ngoại - Có m t.
4. Người bị hại anh Vũ Đức V, sinh năm 1984; địa chỉ: Buôn O, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông - Có m t.
Ng i b o v quy n l i ích h p pháp cho b hại V Đ c V: ng Nguyễn hánh L -Chi nhánh Văn phòng lu t sư Đ tại Đăk Nông, thuộc Đoàn lu t sư tỉnh Đăk Lắk - Có m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cuối năm 2013, Nguyễn Văn M và Nguyễn Đình Bảo T có cầm cố chiếc xe mô tô của Bảo T tại chỗ anh Vũ Đức V, sau đó T và M đến chuộc xe nhưng anh V đã bán nên xảy ra mâu thuẩn.
Vào lúc 16 giờ 30 phút, ngày 03-11-2015, M thấy anh V đang đứng trước quán cắt tóc L tại tổ 4, thị trấn Đ, huyện K nên Mi gọi điện cho Bảo T nói “đang ở đâu, v ngay bùng binh bến xe huy n. Gặp thằng ngày tr ớc cầm xe không cho chuộc rồi”. Bảo T đang làm rẫy nghe M gọi điện thì lấy xe máy của gia đình chạy đến điểm hẹn. Sau khi gọi cho Bảo T, M gọi điện cho Phạm Văn T nói “lên trên bùng binh bến xe huy n giúp tí vi c”. T đang làm tại tiệm nhôm kính lấy xe máy chạy dến chỗ M hẹn.
Khi Bảo T và T đến thì cả ba cùng đi đến trước quán bida V, M đi vào quán bida tìm anh V còn Bảo T đi vào quán cắt tóc tìm anh V, T đứng ngoài xe. Khi Bảo T vào quán cắt tóc thì thấy anh V đang ngồi xem điện thoại, Bảo T quay ra chỗ T, lúc này M từ quán bida đi ra. Bảo T chỉ tay và hướng mắt về phía quán cắt tóc ra ám hiệu cho M biết là anh V đang ở trong quán. M đi vào quán cắt tóc, lúc này anh V nằm ở ghế chơi game. M đi thằng vào chỗ anh V bắt chuyện rồi rủ anh V đi uống cà phê, lúc đầu anh V không biết ai nên từ chối, sau đó anh V theo M ra ngoài. hi đến gần cửa quán M lấy tay khoác vai anh V, đi được khoảng 01m anh V nói không đi nữa nên quay vào quán. Lúc này, Bảo T cầm đoạn cây gỗ được cột sẵn trên xe chạy đến đánh liên tiếp nhiều cái vào hông, vai, đầu anh V, T chạy lại dùng tay đấm vào m t anh V 02 cái, M thì cầm tay anh V giữ lại. Khi thấy anh V chảy máu ở đầu thì M thả tay anh V ra, anh V bò vào trong quán, M chạy lại cầm chân phải anh V kéo ra ngoài quán, Bảo T liền xông vào dùng g y đánh một cái vào đầu gối phải anh V. Anh N, chị Y, chị V chạy ra can ngăn nên Bảo T, M, T không đánh anh V nữa và đi về. Anh V được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa rồi chuyển đến Bệnh viện Thiện Hạnh tại Đăk Lăk điều trị.
Tại kết lu n số 1219/PY-TgT ngày 05-11-2015 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Đăk Lăk kết lu n: Anh Vũ Đức V bị chấn thương vùng đầu 08%, chấn thương phần mềm 02%, chấn thương khớp gối +vỡ bánh chè gối phải: 15%. Tổng tỷ lệ thương tích là 25%. Các vết thương do v t cứng, tày gây ra.
Tại bản kết lu n giám định pháp y bổ sung số 222/PY-TgT ngày 28-01-2016 của Trung tâm y tế - Sở y tế tỉnh Đăk Lăk kết lu n: Chấn thương khớp gối, vỡ xương bánh chè phải 15%, tổn thương sụ chân- dây chằng chéo trước 14%, đa thương vùng đầu 06%, vết thương m t trước xương chân trái 02%, chấn thương phần mềm 02%. Tổng tỷ lệ thương tíc của anh Vũ Đức V là 39%.
Tại bản kết lu n giám định lại về thương tích số 109/16/TgT ngày 19-02-2017 của Phân viện pháp y quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh kết lu n: thương tích của anh V là 13%. Trong đó chưa giám định được tổn thương sụn chêm gối phải do không có hình ảnh so sánh từ phim MRI của Bệnh viện quân y 175 nơi anh V điều trị.
Tại bản kết lu n giám định pháp y về thương tích lần 2 số 148/18/TgT ngày 02-7-2018 của Hội đồng giám định lại lần 2 Viện pháp y quốc gia Bộ y tế kết lu n: Tổng tỷ lệ thương tích cơ thể của anh Vũ Đức V do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 21%. Thương tích khớp gối gây ra phù hợp với thời điểm chấn thương. Thương tích do tác động của v t tày trực tiếp gây ra.
Về trách nhiệm dân sự: Anh V yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 228.450.000 đồng. Gia đình Phạm Văn T đã bồi thường số tiền 44.150.000đ, gia đình Nguyễn Văn M đã bồi thường số tiền 14.150.000đ, gia đình bị cáo T đã bồi thường 14.150.000.000đ. Anh V có đơn bãi nại cho bị cáo T.
Về v t chứng vụ án: cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đoạn gỗ dạng hộp, màu đen.
Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 24-9-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình Bảo T, Nguyễn Văn M, Phạm Văn T về tội “cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ lu t hình sự.
Tại bản án số 31/2018/HSST ngày 12-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện K:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Bảo T 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 08-11-2015 đến 04-01-2016.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01(một)năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 08-11-2015 đến ngày 31-12-2015.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 02 (hai) năm tù nhưng được hưởng án treo. Thời gian thử thách là (04) năm kể từ ngày tuyên án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 của Bộ lu t hình sự năm 2015, Điều 590 của BLDS.
Các bị cáo phải liên đới bồi thường cho anh V số tiền 89.827.000đ. Bị cáo T đã tự nguyện bồi thường 44.150.000đ. Còn lại số tiền 45.677.000đ bị cáo T và bị cáo M phải liên đới bồi thường.
Buộc bị cáo Bảo T phải bồi thường cho anh V số tiền 22.838.500đ, khấu trừ 14.150.000đ bị cáo đã bồi thường. Bị cáo còn phải bồi thường 8.688.500đ.
Buộc bị cáo M phải bồi thường cho anh V số tiền 22.838.500đ, khấu trừ 14.150.000đ bị cáo đã bồi thường. Bị cáo còn phải bồi thường 8.688.500đ.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý v t chứng, nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo.
Ngày 20-11-2018, bị cáo Phạm Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; Ngày 23-11-2018, bị cáo Nguyễn Đình Bảo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Kháng cáo của người bị hại: Ngày 23-11-2018, bị hại anh Vũ Đức V kháng cáo đối với bị cáo Nguyễn Văn M đề nghị tăng hình phạt và không cho hưởng án treo; đối với bị cáo Nguyễn Đình Bảo T đề nghị tăng hình phạt; đề nghị tăng mức bồi thường dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình Bảo T và bị cáo Phạm Văn T đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Các bị cáo thừa nh n Tòa án nhân dân huyện xử phạt các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ lu t hình sự 2015 ( ửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng pháp lu t. Các bị cáo Bảo T và T kháng cáo xin hưởng án treo với các lý do: Các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo T thêm lý do bị cáo có con nh , là lao động chính trong gia đình, bị cáo chỉ tham gia đấm anh V 02 cái vào m t không gây ra thương tích gì.
Tại phiên tòa người bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị tăng mức hình phạt đối với Nguyễn Đình Bảo T và Nguyễn Văn M, đề nghị không cho bị cáo M được hưởng án treo và tăng mức bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại anh Vũ Đức V cung cấp thêm chứng từ thanh toán các chi phí tại bệnh viện và tiền vé xe, cụ thể anh V yêu cầu các bị cáo bồi thường 89.827.000 đồng (theo tòa án sơ thẩm tuyên) + 10.053.000đ; 3.000.000đ tiền phục hồi sức kh e.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội các tình tiết tăng n ng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đình Bảo T; sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn M không cho bị cáo M được hưởng án treo; sửa về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn T, xử phạt bị cáo T từ 06 - 07 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về yêu cầu bồi thường thêm do bị hại cung cấp bổ sung các hóa đơn liên quan đến việc điều trị thương tích.
Tại phiên tòa Lu t sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại tranh lu n: Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ. Về bồi thường thiệt hại đề nghị xem xét thêm cho bị hại đối với số tiền10.053.000đ; 3.000.000đ tiền phục hồi sức kh e mà trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị hại đã cung cấp cho Hội đồng xét xử.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh lu n tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bản án số 31/2018/HSST ngày 12-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện K đã kết án các bị cáo Nguyễn Đình Bảo T, Nguyễn Văn M và Phạm Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ lu t hình sự là có căn cứ và đúng pháp lu t.
2 Về tính tiết tăng n ng định khung đối với các bị cáo: Cấp sơ thẩm có trích dẫn tình tiết tăng n ng định khung tại điểm a, điểm i khoản 1 khoản 2 Điều 134 của Bộ lu t hình sự. Tuy nhiên phần nh n định của Tòa án và phần quyết định của bản án sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng n ng định khung “có tính chất côn đồ” đối với các bị cáo là thiếu sót. Vì, năm 2013 bị cáo T và M có cầm cố xe cho anh V chiếc xe môtô của T. au đó T và M không đến chuộc xe nên anh V đã bán. Ngày 03/11/2015 khi g p anh V M rủ T và T đánh anh V vì lý do trên, sau khi M giữ cho T cầm cây gỗ đánh nhiều cái lên m t, người anh V, T đấm hai cái vào m t anh V, anh V bò vào trong quán thì M dùng tay kéo chân bị cáo lại để T dùng g y gỗ đánh vào đầu gối anh V. Như v y chỉ vì lý do nh nh t vào năm 2013 mà các bị cáo đã ngang nhiên đáng anh V giữa ban ngày, tại khu vực đông dân cư, người bị hại không có bất cứ lời nói, hành động nào chống đối. Do v y cần sửa bản án sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung tăng n ng hình phạt là “Có tính chất côn đồ” đối với các bị cáo.
3 Xét kháng cáo của bị cáo T, bị cáo T, người bị hại về hình phạt và các ý kiến tranh lu n của Lu t sư, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông, Hội đồng xét xử xét thấy, có căn cứ chấp nh n ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và Lu t sư về phần hình phạt đối với các bị cáo.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo T, kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo T: Xét thấy, bị cáo T đã dùng cây gỗ trực tiếp đánh anh V, hành vi rất quyết liệt, là nguyên nhân chính dẫn đến thương tích trên cơ thể anh của anh V. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường về sức kh e của người khác được pháp lu t bảo vệ và ảnh hưởng đến an ninh tr t tự tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên áp dụng mức hình phạt 02 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi của bị cáo gây ra đối với anh V. Do đó, không có căn cứ để chấp nh n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo đối với bị cáo T.
3.2 Đối với kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, xét thấy: hi M và T đánh anh V thì bị cáo đấm 02 cái vào m t anh V. Xét về hành vi thì bị cáo T và M nguy hiểm hơn hành vi của bị cáo T, gia đình của bị cáo T đã bồi thường cho anh V số tiền 44.150.000đ, tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay anh V xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T và bị cáo T cung cấp giấy xác nh n gia đình bị cáo là hộ c n nghèo. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T 01(một) năm 03 (ba) tháng tù là có phần nghiêm khắc. Do đó, có căn cứ chấp nh n một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Xét thấy, bị cáo xin được hưởng án treo, tuy nhiên ngày 18-5-2015, Công an xã N ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC đối với Phạm Văn T với mức phạt tiền là 750.000đ. Ngày 03-11-2015, bị cáo T cùng với bị cáo T và M thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 02-12-2015, Phạm Văn T mới nộp số tiền bị xử phạt theo quyết định số 13 tại Kho bạc nhà nước Krông Nô (BL 131-132). Như v y, theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018, bị cáo T không được hưởng án treo.
. Xét kháng cáo của người bị hại anh Vũ Đức V đối với Nguyễn Văn M về việc không cho hưởng án treo và tăng mức bồi thường thiệt hại:
Anh V kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo M và đề nghị không cho hưởng án treo. Xét thấy, bị cáo M là người khởi xướng, chính bị cáo là người gọi điện cho T và M đi đánh anh V, bị cáo đã vào tiệm cắt tóc để tìm cách cho anh V đi ra ngoài, mục đích của bị cáo là muốn anh V đi ra để T và T đánh. hi T dùng g y đánh anh V thì M là người giữ tay anh M cho các bị cáo thực hiện hành vi, anh V bò vào bên trong quán thì M cầm chân anh V kéo ra ngoài. Như v y, hành vi của bị cáo M là nguy hiểm, coi thường sức kh e, tính mạng của người khác nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 02 năm tù và cho bị cáo hưởng án treo là có phần chưa nghiêm khắc đồng thời theo quy định tại Điều 65 BLH và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì bị cáo là người khởi xướng, cầm đầu nên không cho bị cáo được hưởng án treo mới đảm bảo đúng quy định. Xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội 01 thời gian để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội thì mới đảm bảo đúng và phù hợp với hành vi của bị cáo gây ra. Do đó, cần chấp nh n 01 phần kháng cáo của anh V về việc không cho bị cáo M được hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Anh V yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại:
Xét thấy, anh V bị thương tích thiệt hại 21% sức kh e là do các bị cáo gây ra nên bị cáo T, M và T phải liên đới chịu toàn bộ chi phí điều trị khám chữa bệnh của anh V. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nh n những khoản chi phí hợp lý của anh V và những thiệt hại thực tế cho việc khám, điều trị, phục hồi sức kh e của anh V sau khi bị các bị cáo gây thương tích với số tiền 89.827.000đ là phù hợp, có căn cứ đúng với quy định tại Điều 590 của Bộ lu t tố tụng dân sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh V cung cấp thêm một số chứng từ nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nh n một số khoản, cụ thể: Số tiền khám, tiền thuốc, tiền chụp XQ là 3.078.000 đồng; tiền xe đi khám, chữa bệnh, đi giám định tại thành phố Hồ Chí Minh là: 3.585.000 đồng. Như v y, tổng cộng số tiền các bị cáo phải bồi thường cho anh V là 89.827.000 đồng + 6.663.000 đồng = 96.490.000đ (Chín m ơi sáu tri u bốn trăm chín m ơi ngàn đồng).
Bị cáo T đã bồi thường cho bị hại số tiền 44.150.000đ, bị hại không yêu cầu bị cáo T có nghĩa vụ bồi thường số tiền còn lại cho bị hại. Bị cáo Bảo T và M, mỗi bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 14.150.000 đồng. ố tiền còn lại bị hại yêu cầu bị cáo Bảo T và M có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại, bị cáo Bảo T và M đồng ý bồi thường số tiền còn lại cho bị hại và không yêu cầu bị cáo T phải có nghĩa vụ bồi thường cùng các bị cáo. Do đó, bị cáo Bảo T và M, mỗi bị cáo còn phải bồi thường cho anh V số tiền 12.020.000 đồng.
Từ những phân tích và nh n định trên, xét thấy cần sửa bản án sơ thẩm về điều lu t áp dụng pháp lu t và phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Phạm Văn T. Cần chấp nh n một phần kháng cáo của người bị hại anh Vũ Đức V đối với yêu cầu không cho bị cáo Nguyễn Văn M được hưởng án treo, sửa bản án về phần trách nhiệm dân sự.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình Bảo T không được chấp nh n nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ lu t tố tụng Hình sự năm 2015.
1. hông chấp nh n kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình Bảo T.
2. Chấp nh n một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn T về phần hình phạt.
3. Chấp nh n một phần kháng cáo của người bị hại anh Vũ Đức V, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2018/HSST ngày 12-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đăk Nông về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn M và sửa về phần trách nhiệm dân sự.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Bảo T 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 08-11-2015 đến 04-01-2016.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 08-11-2015 đến ngày 31-12-2015.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 08-11-2015 đến ngày 31-12-2015.
4. Về trách nhiệm dân sự: p dụng Điều 42 của Bộ lu t hình sự; Điều 590 của Bộ lu t dân sự và Điều 246 của Bộ lu t tố tụng dân sự: Tuyên buộc các bị cáo Nguyễn Đình Bảo T, Nguyễn Văn M và Phạm Văn T phải bồi thường cho anh Vũ Đức V số tiền 96.490.000 đồng, khấu trừ 72.450.000 đồng (Trong đó khấu trừ 44.150.000 đồng mà chị Phạm Thị L (vợ của bị hại) đã nh n trực tiếp từ bị cáo Phạm Văn T (Cha của bị cáo T), khấu trừ số tiền bị hại đã nh n trực tiếp của đại diện gia đình mỗi bị cáo Bảo T và M số tiền 4.150.000 đồng, khấu trừ số tiền 10.000.000 đồng mỗi bị cáo Bảo T và và M đã nộp vào tài khoản của Chi cục thi hàng án dân sự huyện theo giấy nộp tiền ngày 06-11-2018. Còn lại số tiền 24.040.000 đồng buộc các bị cáo Nguyễn Đình Bảo T và Nguyễn Văn M, mỗi bị cáo phải bồi thường tiếp cho anh Vũ Đức V số tiền 12.020.000 đồng.
p dụng khoản 2 Điều 357 và 468 của Bộ lu t dân sư để tính lãi suất ch m thực hiện nghĩa vụ trả nợ trả nợ theo quy định pháp lu t.
5. Về án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm:
5.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Đình Bảo T và Nguyễn Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 601.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5.2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Đình Bảo T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Tp. HCM; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng HSNVCS CA tỉnh Đắk Nông; - CA huyện K; - TAND huyện K; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - Bị cáo; - Tổ thụ lý, lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Bùi Thị Ngọc |