vanban.org

Bản án 08/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mường Lay, tỉnh Điện Biên Tuyên án 16/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/4/2019. [3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, 2, 3 Điều 106 BLTTHS; Điều 213, 218, 219 BLDS. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng thu của vụ án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ML
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HS-ST
Ngày 16/7/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ML, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Thân Văn Hàm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Tương và ông Lò Văn Hưng

- Thư ký phiên tòa: ông Thiều Tất Lơ - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Mường Lay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ML tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở tòa án nhân dân thị xã ML, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2019/TLST-HS, ngày 31/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-HS ngày 05/7/2019 đối với bị cáo:

Lò Văn T (tên gọi khác: không); sinh năm 1976.

Nơi ĐKHKTT: bản Đ, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa 8/12;

Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Lò Văn N đã chết; con bà Lò Thị S sinh năm 1957;

Vợ Tòng Thị V sinh năm 1979; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2019.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Chị Tòng Thị V sinh năm 1979; bản Đ, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên.( Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 08/4/2019 tại tổ 7, phường N, thị xã ML. Công an thị xã ML phát hiện bắt quả tang Lò Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu được 01 bao thuốc lá Vinataba bên trong bao thuốc lá có 01 gói giấy bạc màu vàng, trắng bên trong chứa chất bột mầu trắng nghi Heroine. Tại cơ quan điều tra Lò Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/4/2019 Lò Văn T đi xe máy từ nhà sang tổ 7 phường N mục đích để gặp anh T xin việc làm nhưng không gặp được, Lò Văn T có gặp một người tên là K và nhờ Kmua hộ 100.000đ Heroine. Sau khi mua được Heroine bị cáo T đút vào túi quần và đi xe máy về nhà khi đi đến tổ 7, phường N thì bị công an phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số Hêrôin.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng của cơ quan Công an thị xã ML ngày 08/4/2019 xác định số Heroine thu giữ của Lò Văn T có khối lượng là 0,26g. (Trích 0,13g mẫu gửi giám định)

Tại bản kết luận giám định số 427/GĐ-PC09 ngày 22/4/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu vật chứng gửi giám định, vật chứng thu giữ của Lò Văn T là ma túy loại Heroine. (Không hoàn lại mẫu vật sau giám định)

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSML ngày 30/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã ML, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2019.

Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1, Điều 47 BLHS; khoản 1, 2, 3Điều 106 BLTTHS; Điều 213, 218, 219 BLDS. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng thu của vụ án Lò Văn T khối lượng 0,13g Heroine. Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá vinataba. Tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ- đen- xám, biển kiểm soát 27X1-0024, số máy 1464688, số khung 198769 và 01 đăng ký xe máy mang tên Lò Văn T. Trả cho bị cáo Thân 01 điện thoại nhãn hiệu Itel màu xanh loại máy có bàn phím tay, máy đã qua sử dụng.

Trả cho chị Tòng Thị V sinh năm 1979; trú tại bản Đ, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ- đen- xám, biển kiểm soát 27X1-0024, số máy 1464688, số khung 198769 của Lò Văn T đã sử dụng vào việc mua ma túy. Chiếc xe máy mà bị cáo Lò Văn T sử dụng vào việc phạm tội là tài sản chung của vợ chồng.

Bị cáo Lò Văn T tại phiên tòa nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa chị Tòng Thị V người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án trình bày: Chị V muốn xin lại chiếc xe máy mà bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội vì đây là tài sản chung của gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo thừa nhận ngày 08/4/2019 có mua Heroine của một người tên là K (không biết địa chỉ) ở tổ 7, phường N, thị xã ML với mục đích để sử dụng, sau khi mua được Heroine bị cáo đang trên đường về nhà thì bị Công an thị xã phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số Heroine có khối lượng 0,26g Heroine. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Hành vi mua Heroine với mục đích để sử dụng của bị cáo nêu trên là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS.

. Xét tính chất mức độ và hậu quả của tội phạm là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp chính sách độc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, tiếp tay cho các loại tội phạm khác làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thị xã. Bị cáo Lò Văn T tàng trữ 0,26g Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Lò Văn T được coi là phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng phạm vào điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. Do đó bị cáo bị VKS thị xã Mường Lay truy tố, kết luận phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 là hoàn toàn chính xác, có căn cứ đúng pháp luật, không oan sai. Hành vi của bị cáo T cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.

. Về nhân thân: Bị cáo Lò Văn T có nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS năm 2015 người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, gia đình còn gặp nhiều khó khăn. Do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, Điều 47 BLHS; khoản 1, 2, 3 Điều 106 BLTTHS; Điều 213, 218, 219 BLDS. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng thu của vụ án Lò Văn T khối lượng 0,13gHêrôin. Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá vinataba. Tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ- đen- xám, biển kiểm soát 27X1-0024, số máy 1464688, số khung 198769 của Lò Văn T đã sử dụng vào việc mua ma túy và 01 đăng ký xe máy mang tên Lò Văn T. Trả cho bị cáo T 01 điện thoại nhãn hiệu Itel màu xanh loại máy có bàn phím tay, máy đã qua sử dụng.

Trả cho chị Tòng Thị V sinh năm 1979; trú tại bản Đ, phường N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ- đen- xám, biển kiểm soát 27X1-0024, số máy 1464688, số khung 198769 của Lò Văn T đã sử dụng vào việc mua ma túy. Bởi vì chiếc xe máy mà bị cáo Lò Văn T sử dụng vào việc phạm tội là tài sản chung của vợ chồng.

Trong vụ án này có một người tên là K không biết chỗ ở địa chỉ đã bán ma túy cho bị cáo. Công an thị xã chưa xác minh được nên không đủ căn cứ xử lý trong vụ án này.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của BLTTHS năm 2015: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/4/2019.

[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, 2, 3 Điều 106 BLTTHS; Điều 213, 218, 219 BLDS. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng thu của vụ án Lò Văn T khối lượng 0,13g Heroine (Số Heroine còn lại sau giám định). Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá vinataba. Tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ- đen- xám, biển kiểm soát 27X1-0024, số máy 1464688, số khung 198769 của Lò Văn T đã sử dụng vào việc mua ma túy và 01 đăng ký xe máy mang tên Lò Văn T. Trả cho bị cáo Thân 01 điện thoại nhãn hiệu Itel màu xanh loại máy có bàn phím tay, máy đã qua sử dụng.

Trả cho chị Tòng Thị V sinh năm 1979; trú tại bản Đ, phường NL, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ- đen- xám, biển kiểm soát 27X1-0024, số máy 1464688, số khung 198769. ( Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay và Chi Cục thi hành án Dân sự thị xã Mường Lay ngày 31/5/2019)

[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo Lò Văn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình)

Cỡ chữ