vanban.org

Bản án 08/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 07/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lục Thị O phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lục Thị O 24 (hai tư) tháng tù. Thời hạnh chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2018. Vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, có ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lục Thị O phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HS-ST
Ngày: 07/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Phương Nga

2.Ông Nguyễn Duy Tuyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thanh Đại - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Bắc

-

Kiểm sát viên

Ngày 07/01/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2018, đối với bị cáo:

Lục Thị O - Sinh ngày 05 tháng 02 năm 1990 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Làng Đ, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: thái; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn T và bà Lương Thị T; chồng: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21h ngày 14/9/2018, Lục Thị O một mình ra khu vực ngã ba Nguyễn Chí Thanh, Bà Triệu, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa tìm và mua của một người đàn ông không biết tên và địa chỉ 01 gói ma túy đá với giá 1.200.000đ và 01 gói ketamine với giá 200.000đ. Sau đó O mang về phòng trọ số 12 nhà 02/17 Đông Tác, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 21h45 ngày 16/9/2018, khi Oanh đang ở phòng trọ cùng với Lê Văn T - Sinh năm 1980, ở đường H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa và Lê Thị Bích H, sinh năm 1990, ở xóm T, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì bị Công an phường Đông Thọ kiểm tra hành chính. O đã tự giác giao nộp 01 túi nilon màu trắng kích thước (3x6) cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng và lấy ở giỏ đựng hành tỏi dưới bếp 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (1x2) cm bên trong có chứa các chất tinh thể màu trắng.

Tại bản kết luận giám định số: 1994/MT - PC09 ngày 19/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận:

- Các hạt tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng kích thước (3x6) cm là ma tuý, có tổng khối lượng 1,657gam, loại Methamphetamine.

- Các hạt tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng kích thước (1x2) cm là ma tuý, có tổng khối lượng là 0,110 gam, loại Ketamine.

Đối với Lê Văn T, Lê Thị Bích H qua kiểm tra không phát hiện, thu giữ được gì và không biết việc O tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Oanh ngày 14/9/2018, do O không biết tên và địa chỉ nên không có cơ sở xử lý.

Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 10/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố Lục Thị O về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Mức hình phạt VKS đề nghị đối với bị cáo Lục Thị O từ 21 tháng đến 24 tháng tù.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nói gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, tuy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 21h45 ngày 16/9/2018, tại phòng trọ số 12 nhà 02/17 Đông Tác, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, Công an phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang Lục Thị O đang tàng trữ 02 gói ma túy, trong đó 01 gói có tổng khối lượng 1,657gam, loại Methamphetamine và 01 gói có tổng khối lượng 0,110gam, loại Ketamine.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của Lục Thị O có đủ các dấu hiệu cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội danh và khung hình phạt được quy đinh tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm.

Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, sống buông thả sớm sa đà vào con đường nghiện ngập, dẫn đến phạm tội. Căn cứ vào nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về xử lý vật chứng:

Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự TP.Thanh Hoá là vật cấm lưu hành, nên cần áp dụng khoản 1, điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lục Thị O phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lục Thị O 24 (hai tư) tháng tù. Thời hạnh chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2018.

Vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đăng, Lại Thị Thanh Loan, Lê Văn Hoàng, Trình Văn Hưng.

Hiện số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 53/THA ngày 13/12/2018 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sư.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ