- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Bùi Văn T phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HS-ST Ngày 08-4-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU- SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:
- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: bà Nguyễ n Thị Thanh Hường.
- Các hội thẩm nhân dân : Ông Đỗ Tiến Hiệt và bà Nguyễn Thị Huyền.
- Thư ký phiên toà: ông Hoàng Văn Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyệ n Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà : Bà Nguyễ n Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2019/TLST-HS ngày 20/3/2019 theo quyế t đị n h đưa vụ á n ra xé t xử số : 10/2019/QĐXXST- HS ngà y 22/3/2019 đối với bị cáo:
Bùi Văn T . Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1977 tại huyện S, tỉnh Hoà Bình. Nơi đăng ký HKTT : Xóm D, xã M, huyệ n S, tỉnh Hoà Bình . Tạm trú : Tổ A, phườ ng T, thành phố H, tỉnh Hoà Bình; trình độ học vấn lớp: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe ; dân tộ c: Mườ ng; giớ i tí nh: Nam; tôn giá o: Không; quố c tị ch: Việ t Nam. Con ông: Bùi Đức T, sinh năm 1952 và con bà: Đinh Thị T, sinh năm 1952, họ tên vợ: Lê Thị Thuý L, sinh năm 1977 và có 02 con, con thứ nhấ t sinh năm 2008, con thứ hai sinh năm 2013. Tiề n sự : Không; tiề n án: Không; nhân thân: Tố t. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, cho bả o lĩ nh từ ngày 20/12/2018 cho đế n nay.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
-Bị hại :
- Lò Thị N (đã chế t). Ngườ i đạ i diệ n hợ p phá p cho bị hại Lò Thị N: Ông Lò Văn N, sinh năm 1979 (Bố đẻ ). Trú tại: Bản N, xã K, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Anh Lườ ng Văn M, sinh năm 1999. Nơi cư trú : Bản N, xã T, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặt
- Nguyên đơn dân sự : HTX AB. Đạ i diệ n: Ông Lê Đứ c M – Giám đốc. Đị a chỉ: Tổ B, phườ ng T, TP Đ, tỉnh Điện Biên.
Đạ i diệ n theo uỷ quyề n : Ông Hà Văn G , sinh năm 1962 . Chứ c vụ : Giám đố c doanh nghiệ p “DB” . Đị a chỉ : Phườ ng M, TP Đ, tỉnh Điện Biên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lườ ng Văn N , sinh năm 1977. Đị a chỉ : Bản N, xã T, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặt
- Ngườ i là m chứ ng:
Anh Trầ n Duy T, sinh năm 1972. Đị a chỉ : Phườ ng M, Tp Đ, tỉnh Điện Biên. Vắ ng mặ t
Chị Trầ n Thị Phương T , sinh năm 1980. Đị a chỉ : Tổ C, phườ ng N, Tp Đ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
Anh Lò Văn K , sinh năm 1997. Đị a chỉ : Bản N, xã T, huyệ n Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘ I DUNG VỤ Á N
Theo cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên toà , nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau:
Bùi Văn T có giấy phép lái xe hạng E số 250140003366 do sở Giao thông vậ n tả i Phú Thọ cấ p ngà y 12/3/2014. Ký hợp đồng lao động số 02/HĐLĐ vớ i HTX AB, tỉnh Điện Biên từ ngày 01/01/2018 cho đế n ngà y 31/12/2018, sau khi ký hợ p đồ ng lao độ ng xong Bùi Văn T đượ c giao lá i xe cho doanh nghiệ p “ DB” thuộ c HTX AB, tỉnh Điện Biên, công việ c phả i là m đượ c nêu rõ trong hợ p đồ ng lao độ ng là lái xe khách biển kiểm soát 27B - 00100. Ngày 28 tháng 9 năm 2018, Bùi Văn T và anh Trần Duy T đượ c giao điề u khiể n xe ô tô chở khá ch loạ i 43 giườ ng nằ m BKS 27B - 001.84 từ thà nh phố Điệ n Biên Phủ đế n tỉ nh Hà Nam , trên xe có 14 hành khách và hai phụ xe.
Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 28/9/2018, xe ô tô BKS 27B – 001.84 do anh Trầ n Duy T điề u khiể n xuấ t phá t từ bế n xe khá ch Điệ n Biên đi Hà Nam , khi đi đế n xã Chiềng Pấc, huyệ n Thuậ n Châu , tỉnh Sơn La thì dừ ng ăn cơm , sau khi ăn cơm xong thì T thay anh T điề u khiể n xe ô tô tiế p tụ c di chuyể n đi Hà Nam . Đế n 00 giờ 39 phút, ngày 29/9/2018, đi đế n đị a phậ n thị trấ n Yên Châu, T điề u khiể n xe ô tô đi trên phầ n đườ ng phả i vớ i tố c độ từ 58km/h – 69km/h, đến Km 240+500 Quố c lộ 6A (ngã tư thị trấn Yên Châu ) thuộ c đị a phậ n Tiể u khu A, thị trấn Yên Châu , lúc này đèn tín hiệu giao thông tại ngã tư đang ở chế độ “vàng nhấp nháy” , T không giảm tốc độ, điề u khiể n xe ô tô đi trên phầ n đườ ng phả i (hướ ng Sơn La – Hà Nội). Khi đầ u xe ô tô do T điề u khiể n đi đế n vị trí cá ch vạ ch kẻ ngang mà u trắ ng dà nh cho ngườ i đi bộ ở đầ u ngã tư hướ ng Sơn La – Hà Nội khoảng 10m thì phá t hiệ n có hai xe mô tô đi cá ch nhau khoả ng 02m từ đườ ng nhá nh phí a bên phả i (đườ ng 20/11) ra QL6A rẽ trá i hướ ng Sơn La – Hà Nội, trong đó có xe mô tô do Lường Văn M, sinh năm 1999, trú tại bản N, xã T, huyệ n Y, tỉnh Sơn La điề u khiể n chở Lò Thị N , sinh năm 2002, trú tại bản N , xã K, huyệ n Yên Châu đi phí a trướ c đã qua vạ ch kẻ đườ ng dà nh cho ngườ i đi bộ . Bùi Văn T cho rằ ng ngườ i điề u khiể n xe mô tô sẽ dừ ng lạ i nhườ ng cho xe ô tô củ a T nên T chủ động đạp phanh và đánh lái sang trá i để trá nh xe mô tô, nhưng Lườ ng Văn M vẫ n điề u khiể n xe mô tô đi sang phầ n đườ ng phả i hướ ng Hà Nộ i – Sơn La nên phầ n đầ u (mặ t nạ ) xe ô tô do T điề u khiể n đã va chạ m và o tay lá i , càng bánh trước, yế m xe mô tô BKS 26N1 – 050.56 do Lườ ng Văn M điề u khiể n. Điể m va chạ m xá c đị nh trên phầ n đườ ng trá i hướ ng Sơn La – Hà Nội. Hậ u quả Lò Thị N tử vong, Lườ ng Văn M bị thương nhẹ , hư hỏng một xe mô tô.
Sau khi tai nạ n xả y ra, Công an huyệ n Yên Châu đã tiế n hà nh kiể m tra nồ ng độ cồ n qua hơi thở và xé t nghiệ m ma tuý bằ ng thanh thử trong nướ c tiể u đố i vớ i Bùi Văn T. Kế t quả xá c đị nh nồ ng độ cồ n củ a Bùi Văn T là 0,000mg/l khí thở . Xét nghiệ m ma tuý : (-) Âm tí nh (không sử dụ ng ma tuý )
Ngày 29/9/2018, cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu có thu mẫ u má u của Lường Văn M xét nghiệm nồng độ cồn , kế t quả nồ n g độ cồ n trong má u của Lườ ng Văn M là: 120mg/dl (120/100ml).
Kế t quả khá m nghiệ m hiệ n trườ ng, khám nghiệm tử thi, kế t quả thự c nghiệ m điề u tra; Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km 240 + 500 Quốc lộ 6A, tại ngã tư có hệ thống đèn tín hiệu giao thông, thuộc địa phận Tiểu A, thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Mặt đường được rải nhựa áp phan bằng phẳng rộng 13,60m, tại nơi xảy ra tai nạn giao thông không có vạch kẻ phân chia phần đường (có mắt phản quang giữa đường). Ở hai đầu đường ngã tư Quốc lộ 6 có vạch kẻ ngang màu trắng dành cho người đi bộ và vạch kẻ bằng nét liền màu vàng phân chia phần đường. Bên phải hướng Sơn La - Hà Nội là đường đi vào UBND huyện Yên Châu (đường 20/11 - đường nhánh), bên trái là đường đi vào trường THPT Yên Châu (đường Chu Văn An - đường nhánh), phía ngoài mép đường phía trước, phía sau bên trái, bên phải hướng Sơn La - Hà Nội là rãnh thoát nước rộng 0,55m, sâu 0,15m, ngoài rãnh thoát nước là vỉa hè rộng 03m, ngoài vỉa hè là cơ quan nhà nước và khu dân cư. Tại hiện trường để lại 13 dấu vết, các dấu vết được đo vào điểm mốc và mép đường trái kéo dài, cụ thể:
V1: Trên mặt đường phần đường trái hướng Sơn La - Hà Nội để lại 01 (một) vết cày trượt màu trắng kích thước 9,20m x 0,01m x 0,005m, hướng Sơn La - Hà Nội, chéo từ phải sang trái. Đo từ điểm đầu đến mép đường trái kéo dài là 6,60m, đo đến H5/240 là 9,30m. Điểm cuối đo đến mép đường trái kéo dài là 3,75m. Xác định là do đầu lõi kim loại giá để chân phía sau bên phải xe mô tô BKS 26N1 - 050.56 gây ra.
V2: Trên mặt đường phần đường trái và phần đường phải để lại 01 (một) vết cày trượt màu trắng hình vòng cung kích thước 52,30m x 0,01m x 0,01m, hướng Sơn La - Hà Nội. Đo từ điểm đầu đến mép đường trái kéo dài là 6,20m, đo đến điểm đầu (V1) là 0,50m. Điểm giữa đo đến mép đường trái là 2,05m. Điểm cuối kết thúc tại giá để chân phía trước bên phải xe mô tô BKS 26N1 - 050.56, đo đến mép đường trái là 9,60m. Xác định là do đầu lõi kim loại giá để chân phía trước bên phải xe mô tô BKS 26N1 - 050.56 gây ra.
V3: Trên mặt đường phần đường trái và phần đường phải để lại 01 (một) vết cày trượt màu trắng hình vòng cung kích thước 52,50m x 0,01m x 0,01m, hướng Sơn La - Hà Nội. Đo từ điểm đầu đến mép đường trái là 06m, đo đến điểm đầu (V2) là 0,20m. Điểm giữa đo đến mép đường trái kéo dài là 1,80m. Điểm cuối kết thúc tại bàn đạp chân phanh của xe mô tô BKS 26N1 - 050.56, đo đến mép đường trái là 9,40m. Xác định là do bàn đạp chân phanh của xe mô tô BKS 26N1 - 050.56 gây ra.
V4: Trên mặt đường phần đường trái để lại 01 (một) vết dầu văng kích thước 2,60m x 0,20m, hướng Sơn La - Hà Nội, chéo từ phải sang trái. Đo từ điểm đầu đến mép đường trái là 5,50m, đo đến điểm đầu (V3) là 2,24m. Điểm cuối đo đến mép đường trái là 4,80m. Xác định là vết dầu của xe mô tô BKS 26N1 - 050.56.
V5: Trên mặt đường phần đường trái để lại 01 (một) yên xe mô tô màu đen, kích thước 0,75m x 0,30m, đo từ tâm đến mép đường trái kéo dài là 4,30m, đo đến điểm cuối (V4) là 4,10m. Xác định là yên xe mô tô BKS 26N1 - 050.56.
V6: Trên mặt đường phần đường trái để lại 01 (một) vết phanh trượt màu đen của lốp xe ô tô, hình vòng cung kích thước 21,40m x 0,40m, hướng Sơn La - Hà Nội. Đo từ điểm đầu đến mép đường trái kéo dài là 2,60m, đo đến điểm cuối (V4) là 4,30m. Điểm giữa đo đến mép đường trái là 1,10m. Điểm cuối đo đến mép đường trái kéo dài là 2,60m. Xác định là vết phanh của bánh sau bên trái xe ô tô BKS 27B - 001.84.
V7: Trên mặt đường phần đường trái để lại 01 (một) vết chùi trượt màu nâu kích thước 7,05m x 0,05m, hướng Sơn La - Hà Nội, chéo từ phải sang trái. Đo từ điểm đầu đến mép đường trái kéo dài là 2,65m, đo đến điểm đầu (V6) là 3,60m. Điểm cuối nằm trên mép đường trái. Xác định là vết máu của nạn nhân Lò Thị Nga.
V8: Trên mặt đường phần đường trái Quốc lộ 6A và phần đường phải đường Chu Văn An để lại 01 (một) vết chùi trượt kích thước 8,30m x 0,30m, hướng Sơn La
- Hà Nội, chéo từ phải sang trái. Đo từ điểm đầu đến mép đường trái kéo dài là 1,10m, đo đến điểm đầu (V6) là 3,70m. Điểm cuối đo vào mép đường trái Quốc Lộ 6A là 0,80m. Xác định là vết trượt của nạn nhân Lường Văn Muốn.
V9: Trên bề mặt thành phía trong rãnh thoát nước bên phải đường Chu Văn An để lại 01 (một) đám máu tươi kích thước 0,20m x 0,15m, đo từ tâm vào mép đường trái kéo dài là 2,06m, đo đến điểm cuối (V8) là 3,30m. Xác định là máu và vị trí nạn nhân Lường Văn Muốn.
V10: Trên bề mặt thành phía trong rãnh thoát nước bên phải đường Chu Văn An để lại 01 (một) đám máu tươi kích thước 0,18m x 0,15m, đo từ tâm vào mép đường trái kéo dài là 1,90m, đo đến tâm (V9) là 0,60m. Xác định là máu và vị trí nạn nhân Lò Thị Nga.
V11: Trên bề mặt thành phía trong rãnh thoát nước bên phải đường Chu Văn An để lại 01 (một) mảnh nhựa màu trắng, đỏ. Kích thước 0,65m x 0,20m, đo từ tâm vào mép đường trái kéo dài là 0,60m, đo đến tâm (V10) là 1,20m. Xác định là mảnh chắn đà phía trước của xe ô tô BKS 27B - 001.84.
V12: Vị trí xe ô tô BKS 27B - 001.84, sau khi xảy ra tai nạn dừng dọc trên phần đường phải. Đầu xe hướng Hà Nội, đo từ mép lốp tiếp đất của bánh trước bên trái xe đến mép đường trái là 10m. Đuôi xe hướng Sơn La, đo từ mép lốp tiếp đất của bánh sau bên trái đến mép đường trái kéo dài là 10m, đo đến tâm (V11) là 18,80m.
V13: Vị trí xe mô tô BKS 26N1 - 050.56, sau khi xảy ra tai nạn đổ nghiêng sang bên phải, xe nằm dọc trên phần đường phải. Đầu xe hướng Hà Nội, chếch sang bên trái đường, đo từ trục trước đến mép đường trái là 9,10m, đo đến mép lốp tiếp đất của bánh trước bên trái xe ô tô BKS 27B - 001.84 là 5,30m. Đuôi xe hướng Sơn La, chếch sang bên phải đường, đo từ trục sau đến mép đường trái kéo dài là 9,90m.
Kết quả khám nghiệm tử thi xác định tổn thương trên cơ thể của Lò Thị N: Vùng đầu khám ngoài không phát hiện tổn thương, gõ thăm dò có dấu hiệu vỡ xương hộp sọ thái dương trái; Vùng trán phải có đám xây xước bầm tím chiều hướng từ dưới lên trên, kích thước 3cm x 1cm; Vùng trán trái có đám xây xước rách da trên diện rộng chiều hướng từ dưới lên trên, từ trước ra sau kích thước 7cm x 3,5cm. Tại gò má phải kéo từ đuôi mắt phải có đám xây xước bầm tím chiều hướng từ dưới lên trên kích thước 3,5cm x 3cm, mũi, miệng trào nhiều dịch màu hồng, mắt trái sưng nề bầm tím, mặt gãy xương cung tiếp bên trái; gãy đốt sống cổ số 2, số 3; lưng, mông: Xuất hiện vết hoen tử thi màu đỏ sẫm chưa cố định; Mặt ngoài khuỷu tay phải có vết xây xước da chiều hướng từ dưới lên trên kích thước 2cm x 1,5cm. Tại 1/3 dưới mặt sau cẳng tay phải kép xuống mu tau có đám xây xước da có kích thước 4cm x 3cm. Mu bàn tay trái có đám xây xước da chiều hướng từ trên xuống dưới kích thước 8cm x 4cm; Mặt ngoài mắt cá chân có đám xây xước da, hướng từ dưới lên trên kích thước 3,5cm x 3cm. Tại 1/3 mặt sau ngoài đùi trái kéo xuống 1/3 mặt ngoài đùi trái có đám xây xước da bầm tím kích thước 25cm x 3cm. Mặt trước gối trái kéo dài sang mặt trong và mặt ngoài gối trái có vết thương rách da bờ mép nham nhở, để lộ xương chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên kích thước 19cm x 3cm. Tại 1/3 mặt ngoài dưới cẳng chân trái kéo dài dưới mắt cá chân trái có vết thương rách da, để lộ xương kích thước 15cm x 9cm, lòng bàn chân trái có vết thương rách da kích thước 9cm x 3cm, gãy phức tạp hai xương cẳng chân trái. Mổ tử thi: Rạch da vùng đầu thái dương trái thấy tổ chức dưới da đầu bầm dập, tụ máu màu đen, xương thái dương trái dập vỡ, nhiều máu không đông chảy từ trong ra ngoài. (BL: 51-52)
Kết quả khám nghiệm phương tiện ngày 29/9/2018 đối với xe ô tô biển kiểm soát 27B - 001.84 (loại xe ô tô 43 giường nằm chở khách màu sơn trắng đỏ), do Bùi Văn T điều khiển sau tai nạn để lại một số dấu vết sau: Kính chắn gió phía trước bị nứt hoàn toàn; Mặt nạ phía trước bị bẹp méo đẩy vào trong, KT 0,90m x 0,40m, đo từ điểm thấp nhất đến mặt đất là 1,06m. Mặt nạ bên dưới phía trước bị bung rời khỏi vị trí ban đầu để lộ khung satsi có dính sơn màu đỏ. Đèn chiếu sáng (đèn vàng) phía trước bên phải bị vỡ. Chắn đà phía trước bị gãy bung khỏi vị trí ban đầu, mặt ngoài để lại vết chùi trượt màu đen có kích thước 0,46m x 0,44m có chiều hướng từ trên xuống dưới. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống lái, phanh, còi còn tác dụng (BL: 06-07)
Kết quả khám nghiệm phương tiện ngày 29/9/2018 đối với xe mô tô biển kiểm soát 26N1 - 050.56 (loại xe HONDA Wave dung tích 109cm3 màu trắng đen bạc), do Lường Văn Muốn điều khiển sau tai nạn để lại một số dấu vết: Gáo gương chiếu hậu bên trái bị vỡ hoàn toàn. Đồng hồ công tơ mét, đèn chiếu sáng phía trước, đèn tín hiệu phía trước bên phải và bên trái bị vỡ hoàn toàn. Tay lái phía trước bên trái bị đẩy cong. Mặt ngoài càng bánh trước bên trái để lại vết chùi trượt màu đỏ kích thướ c 18cm x 03cm. Mặt ngoài cánh yếm, ốp nhựa sườn xe bên trái bị nứt vỡ, để lại vết cà trượt. Cần số bị đẩy cong ép sát vào bưởng máy. Giá để chân phía trước bên trái xe bị đẩy cong từ dưới lên trên so với vị trí ban đầu 08cm. Chân chống phụ bị gãy rời khỏi vị trí nối với giá để chân. Yên xe bị bung khỏi vị trí ban đầu. Đầu cánh yếm bên phải xe bị nứt vỡ. Bên phải bàn đạp chân phanh bị đẩy cong để lại vết mài mòn, trên bề mặt có bám bột đá màu trắng. Giá để chân phía trước bên phải xe bị đẩy gập từ trước ra sau, từ dưới lên trên ép sát vào bưởng máy. Đầu cao su giá để chân để lại vết mài mòn để lộ ra phần lõi kim loại bên trong. Mặt dưới đầu lõi kim loại để lại vết mài mòn. Ốp nhựa sườn xe bên phải bị nứt, vỡ . Mặt ngoài tay nắm phía sau bên phải xe để lại vết mài mòn. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống lái, phanh, lốp, còi còn tác dụng (BL: 14-15)
Kế t luậ n giá m đị nh phá p y về tử thi số 122 ngày 09/10/2018 của trung tâm Pháp y tỉnh Sơn La , kế t luậ n ngu yên nhân chế t củ a Lò Thị N : “Đa chấ n thương, chấ n thương sọ nã o kí n , vỡ xương thá i dương trá i là nguyên nhân dẫ n đế n tử vong”;
Biên bả n kiể m tra thiế t bị giá m sá t hà nh trì nh (GPS) do cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu lậ p ngà y 29/9/2018, xác định tốc độ tối đa xe ô tô BKS 27B – 00184 khi và o thị trấ n Yên Châu là 68Km/h, tố c độ tố i thiể u là 45Km/h.
Ngày 16/11/2018, cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu đã trưng cầ u
Việ n khoa họ c hì nh sự (C09)- Bộ Công An giá m đị nh hì nh ả nh dữ liệ u trí ch x uấ t Camera đượ c đặ t tạ i ngã tư đè n tí n hiệ u giao thông.
Ngày 14/12/2018 Việ n khoa họ c hì nh sự Bộ Công an có kế t luậ n số 6443: Kế t luậ n: Không phá t hiệ n dấ u vế t cắ t ghé p, biên tậ p, chỉnh sửa nội dung trong các file video gử i giám định; vị trí va chạm của xe ô tô BKS 27B – 001.84 và xe mô tô BKS 26N1 – 050.56 nằ m trên giao lộ ngã tư thuộ c phầ n đườ ng bên trá i theo hướ ng di chuyể n củ a xe ô tô; tố c độ củ a xe ô tô BKS 27B – 001.84 tại thời điểm trước khi xảy ra tai nạ n trong khoả ng từ 58km/h đế n 69 km/h; tố c độ củ a xe mô tô BKS 26N1- 050.56, tại thời điểm trước khi xảy ra tai nạn trong khoảng từ 24 km/h đế n 48 km/h.
Kế t quả điề u tra xá c đị nh: Khoảng va chạm nằm trên phần đường trái hướ ng Sơn La – Hà Nội , kích thước 0,9m x 0,5m. Tâm khoả ng va chạ m đo đế n mé p đườ ng trá i ké o dà i là 6,3m, đo đế n vạ ch phân chia phầ n đườ ng ké o dà i là 0,5m, đo đến điểm mốc H5/240 là 9m.
Đối với th ương tí ch củ a Lườ ng Văn M . Ngày 25/12/2018, cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu ra Quyế t đị nh số 14 trưng cầ u Trung tâm giá m đị nh phá p y tỉ nh Sơn La giá m đị nh tỷ lệ tổ n thươ ng cơ thể củ a Lườ ng Văn M . Tuy nhiên Lườ ng Văn M từ chố i giá m đị nh vớ i lý do thương tí ch không đá ng kể , hiệ n tạ i sứ c khoẻ đã hồi phục và đã được đền bù thoả đáng.
Ngày 18/10/2018, cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu có yêu cầ u số 1044 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Yên Châu xác đ ịnh giá trị phần hư hỏng do tai nạn gây ra ngày 29/9/2018 đố i vớ i xe ô tô BKS 27B – 001.84 và xe mô tô 26N1 - 050.56. Tại bản kết luận định giá tài sản số 50 ngày 19/10/2018 của HĐĐG tà i sả n trong TTHS huyệ n Yên Châu kế t luậ n : Giá trị tài sản bị thiệt hại do tai nạn giao thông xảy ra ngày
29/9/2018 tại Km 240+ 500 QL6A (ngã tư Yên Châu) thuộ c đị a phậ n Tiể u khu 2, thị trấn Yên Châu: Đối với xe ô tô BKS 27B – 001.84 là: 15.691.000đ (mườ i lăm triệ u sá u trăm chí n mươi mố t nghìn đồng ). Đối với xe mô tô BKS 26N1 - 050.56 là: 5.062.000đ (năm triệ u không trăm sá u mươi hai nghì n đồ ng).
Về trá ch nhiệ m dân sự :
Sau khi tai nạ n giao thông xả y ra bị cá o Bùi Văn T đã tự nguyệ n bồ i thườ ng cho gia đì nh nạ n nhân Lò Thị N số tiề n 60.000.000đ, cho bị hạ i Lườ ng Văn M 15.000.000đ. Gia đì nh nạ n nhân N và bị hạ i M không có yêu cầ u gì thêm.
Về vậ t chứ ng : Đối với 01 xe ô tô , nhãn hiệu HUYNHDAI , loại xe ô tô khách, màu trắng đỏ , BKS 27B – 001.84; 01 giấ y chứ ng nhậ n đăn ký xe ô tô 004828 mang tên HTX vậ n chuyể n khá ch , hàng hoá và dịch vụ ; 01 giấ y chứ ng nhậ n đăng kiể m số 5891467 của xe ô tô BKS 27B – 001.84; 01 giấ y chứ ng nhậ n bảo hiểm bắt buộc TNDS số 0264169 của xe ô tô. Quá trình điều tra xác định số vậ t chứ ng trên thuộ c sở hữ u củ a HTX vậ n chuyể n khá ch , hàng hoá và dịch vụ thành phố Điện Biên , tỉnh Điện Biên. Ngày 15/10/2018 cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu đã ra quyế t đị nh xử lý vậ t chứ ng trả lạ i chiế c xe trên cù ng giấ y tờ liên quan cho ông Hà Văn G là người được giám đốc HTX vận chuyển khách , hàng hoá và dịch vụ thành phố Điện Biên uỷ quyền.
Đối với một xe mô tô BKS 26N1 – 050.56, nhãn hiệu HONDA , loại xe
Wave, màu trắng đen bạc . Là tài sản hợp p háp của ông Lường Văn N. Việ c Lườ ng Văn M lấ y xe củ a gia đì nh đi chơi
và xảy ra tai nạn ông N
không biế t . Ngày 11/01/2019 cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu đã ra quyế t đị nh xử lý vậ t chứ ng trả lạ i chiế c xe trên cho ông Lườ ng Văn N.
Vậ t chứ ng cò n lạ i chuyể n theo hồ sơ
01 giấ y phé p lá i xe hạ ng E số
: 250140003366 mang tên Bùi Văn T do Sở Giao thông vậ n tả i tỉ nh Phú Thọ cấ p ngày 12/3/2014
Từ những nội dung trên , b¶n c¸o tr¹ng sè 11/KS§T- TA ngµy 18/3/2019, ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Yªn Ch©u ®· truy tè bÞ c¸o Bùi Văn T vÒ téi: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy ®Þnh t¹i điể m a kho¶n 1 ĐiÒu 260 Bé luËt h×nh sù.
Tại phiên toà sơ thẩ m hôm nay:
Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Yên Châu
luậ n tộ i : Giữ nguyên quan điể m truy tố bị cá o như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổ i, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tí ch tí nh chấ t , mứ c độ nguy hiể m củ a hà nh vi phạ m tộ i và nhân thân bị cá o , các tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự , đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử :
- Về hình phạt: Áp dụng điể m a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điề u 65 BLHS đề nghị mức án hình phạt từ 12 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án tre o, thờ i gian thử thá ch 24 tháng đến 36 tháng, về tộ i “Vi phạ m quy đị nh về tham gia giao thông đườ ng bộ ”
. Không á p dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 586, Điều 589; Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015: Ghi nhận việc các bên tự thỏa thuận bồi trách nhiệm dân sự với nhau.
- Về vật chứng của vụ án: áp dụng khoản 2, Điề u 47 BLHS, điể m a khoả n 3, Điề u 106 BLTTHS: đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo Bùi Văn T tại phiên toà : 01 giấ y phé p lá i xe hạ ng E số 250140003366 mang tên Bùi Văn T.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu án phí hì nh sự sơ thẩ m 200.000 đồng.
Tại phiên toà bị cáo bị cáo khai nhận toàn bộ hà nh vi đã thự c hiệ n như bả n cáo trạng đã truy tố và nhất trí với bản cáo trạng mà Viện Kiểm sát
công bố tạ i phiên toà . Bị cáo không tranh luận bào chữa gì , nhấ t trí vớ i kế t luậ n giá m đị nh, kế t luậ n đị nh giá tà i sả n củ a cơ quan chuyên môn . Lờ i nó i sau cù ng bị cáo chỉ xin Hội đồ ng xé t xử xem xé t giả m nhẹ hì nh phạ t cho bị cá o.
Vớ i tư cá ch là ngườ i đạ i diệ n cho nạ n nhân và n gười bị hại không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự của bị cáo, về trách nhiệm hình sự, gia đình nạn nhân và bị hại yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cho bị cáo đượ c hưở ng mứ c á n cả i tạ o tạ i đị a phương.
Đạ i diệ n theo uỷ quyề n của nguyên đơn dân sự ông Hà Vă n G có ý kiến. Về phầ n hư hỏ ng củ a xe ô tô BKS 27B – 001.84 bị thiệt hại là 15.691.000đ. Bị cáo Bùi Văn T và HTX vận chuyển khác h, hàng hoá và dịch vụ thành phố Điện Biên đã tự thoả thuậ n , không yêu cầ u xem xé t giả i quyế t gì thêm trong vụ á n nà y . Yêu cầ u HĐXX xem xé t cho bị cá o đượ c hưở ng mứ c á n cả i tạ o tạ i đị a phương.
Vớ i tư cá ch là ngườ i có qu yề n lợ i, nghĩa vụ liên quan trong vụ á n ông Lườ ng Văn N không có yêu cầ u bồ i thườ ng gì.
Căn cứ vào c¸c tµi liÖu, chøng cø ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ, c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn tßa, trªn c¬ së xem xÐt ®¸nh gi¸ ®Çy ®ñ, toµn diÖn c¸c chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, lêi khai cña bÞ c¸o vµ nh÷ng ng êi tham gia tè tông kh¸c.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TOÀ Á N:
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã
đượ c tranh tụ ng tạ i phiên toà. Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n đị nh như sau:
[1] Về hà nh vi tố tụ ng , quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an huyệ n Yên Châu , Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Yên Châu và ngườ i tiế n hà nh tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng thẩ m quyề n, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, đạ i diệ n bị hạ i và đạ i diệ n ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan không có ý kiế n hoặ c khiế u nạ i về hà nh vi , quyế t đị nh củ a cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng . Do đó , các hành vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đá nh giá về tội danh: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà vớ i lờ i khai củ a bị cá o trong quá trì nh điề u tra . Hộ i đồ ng xé t xử thấ y cơ bả n phù hợ p vớ i nhau , phù hợp với bi ên bả n khá m nghiệ m hiệ n trườ ng , biên bả n khá m nghiệ m tử thi, biên bả n khá m nghiệ m phương tiệ n , kế t luậ n giá m đị nh phá p y , bản kế t luậ n đị nh giá tà i sả n củ a cơ quan chuyên môn cũ ng như cá c tà i liệ u khá c có trong hồ sơ vụ á n đã đượ c cơ quan điề u tra thu thậ p trong hồ sơ vụ á n.
Như vậ y, có đủ cơ sở kế t luậ n : khoảng 00 giờ 30 phút ngày 29/9/2018, Bùi Văn T (có giấy phép lái xe hạng E ) điề u khiể n xe ô tô chở khá ch 43 giườ ng nằ m BKS 27B – 001.84 đi và o thị trấ n Yên Châu (khu đông dân cư ) vớ i tố c độ từ 56 đến 68 km/h (vượ t mứ c quy đị nh tố c độ tố i đa cho phé p xe cơ giớ i trên đườ ng bộ trong khu vự c đông dân cư đố i vớ i đườ ng hai chiề u không có giả i phân cá ch giữ a từ 6 đến 18km/h). Khi đi đế n ngã tư Yên Châu , T quan sá t thấ y đè n tí n hiệ u giao thông đang chế độ “và ng nhấ p nhá y” nhưng vẫ n tiế p tụ c điề u khiể n xe ô tô đi vớ i tố c độ cao (trong khoả ng từ 58km/h đế n 69km/h) nên khi phá t hiệ n xe mô tô do Lườ ng Văn M điề u khiể n chở theo Lò Thị N đi từ hướ ng Chiề ng Khoi đế n ngã tư Yên Châu, Bùi Văn T đã không kị p giả m tố c độ để có thể dừ ng lạ i mộ t cá ch an toàn, T điề u khiể n xe ô tô đá nh lá i sang phầ n đườ ng tr ái hướng Sơn La – Hà Nội để tránh phần đầu (mặ t nạ ) xe ô tô BKS 27B – 001.84 do T điề u khiể n đã va chạ m phầ n bên trá i (tay lá i , càng bánh trước , yế m) xe mô tô BKS 26N1- 050.56 do Lườ ng Văn M điề u khiể n trên phầ n đườ ng hướ ng Sơn La – Hà Nội. Hậ u quả Lò Thị N tử von g, Lườ ng Văn M bị thương. Xe ô tô BKS 27B – 001.84 bị hư hỏng thiệ t hạ i 15. 691.000đ. Xe mô tô BKS 26N1 – 050.56 bị hư hỏng thiệt hại 5.062.000đ.
Hành vi nêu trên của Bùi Văn T điề u khiể n xe ô tô trong đô thị không tuân thủ quy tắc chung quy định về tốc độ , không giả m tố c độ khi đế n ngã tư có đè n tí n hiệ u ở chế độ “và ng nhấ p nhá y” đã vi phạ m Điề u 9, điể m c khoả n 3 Điề u 10 và Điề u 12 Luậ t giao thông đư ờng bộ số 23/2008 của Quốc hội nước CHXHCNVN . Do vậ y đủ yế u tố cấ u thà nh tộ i “ Vi phạ m quy đị nh về tham gia giao thông đườ ng bộ ” tộ i danh và hì nh phạ t đượ c quy đị nh tạ i điể m a khoả n 1 Điề u 260 của Bộ luật hình sự. Quan điể m truy tố củ a Việ n Kiể m sá t nhân dân huyệ n Yên Châu đố i vớ i bị cáo như bản cáo trạng đã nêu là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[3] Đá nh giá về tí nh chấ t mứ c độ nghiêm trọ ng củ a hà nh vi phạ m tộ i:
Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn T là nguy hiểm cho xã hội , đã xâm phạm đến trật tự an toàn khi tham gia giao thông đường bộ , đồ ng thờ i xâm phạ m đến tính mạng của người khác , gây ả nh hưở ng xấ u đế n tì nh hì nh trậ t tự an ninh tại địa phương, hậ u quả củ a vụ á n là nghiêm trọ ng nên cầ n xử lý bị cá o vớ i mứ c hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Về hì nh phạ t á p dụ ng đố i vớ i bị cá o:
Tình hình tai nạn giao thông thời gian gần đây có diễ n biế n khó lườ ng, chủ yế u do ý thứ c củ a ngườ i tham gia giao thông . Do đó , việ c đưa ra xé t xử và á p dụng hình phạt đối với người thực hiện hành vi vi phạm an toàn giao thông gây nguy hiể m cho xã hộ i là cầ n thiế t.
Hội đồng xét xử đã xem xét toàn diện nội dung của vụ án, lỗi của bị cáo khi tham gia giao thông, các nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến việc bị cáo phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. HĐXX nhận định đánh giá như sau:
Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đủ hiểu biết về luật giao thông đường bộ nhưng từ việc bị cáo không chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật đặc biệt là Luật giao thông đường bộ. Điều khiển xe ô tô vi phạ m quy tắ c giao thông đườ ng bộ , hành vi khác gây nguy hiể m cho ngườ i và phương tiệ n tham gia giao thông đườ ng b ộ, hậ u quả củ a vụ án là nghiêm trọng nên cần xử lý bị cáo với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, trong vụ á n nà y có mộ t phầ n lỗ i của ngườ i bị hạ i Lườ ng Văn M là khi tham gia giao thông không có giấy phép lái xe, điề u khiể n xe sau khi đã sử dụ ng rượ u , bia, sang đườ ng không quan sá t, không độ i mũ bả o hiể m . Do vậ y Hộ i đồ ng xé t xử sẽ cân nhắ c xem xé t trong khi lượ ng hì nh.
Để quyế t đị nh hì nh phạ t phù hợ p vớ i tí nh chấ t , mứ c độ củ a hà nh vi phạ m tộ i, cầ n xem xé t đế n cá c tì nh tiế t tăng nặ ng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân củ a bị cá o để á p dụ ng mứ c hì nh phạ t cho phù hợ p.
Về nhân thân : Bị cáo có nhân thân tốt , chưa có tiề n á n , tiề n sự , phạm tội lầ n đầ u.
Về tì nh tiế t tăng nặ ng: Bị cáo không phải chịu một tì nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự nà o.
Về tì nh tiế t giả m nhẹ : Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà , bị cáo thành khẩn khai báo , tự nguyệ n bồ i thườ ng thiệ t hạ i về tí nh mạ ng và sứ c khoẻ cho gia đì nh cá c bị hại và người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cá o là lao độ ng chí nh trong gia đì nh. Ngoài ra bị cáo có chủ ruột là liệt sỹ. Bị cáo thuộc gia đình chính sách . Do vậ y bị cá o đượ c hưở ng cá c tì nh tiế t giả m nhẹ tại điểm b, s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự .
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm
. Tuy nhiên, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước. Hậu quả do bị cáo gây ra là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, sau khi hậu quả xảy ra bị cáo đã khắc phục bồi thường hậu quả cho bị hại, thật thà khai báo, ăn năn hối cải với hành vi mà bản thân gây ra, ngoài hành vi đang bị xử lý ra thì bị cáo không bị xử phạt hay phạm vào hành vi nào khác. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo khai nhận hành vi của bản thân. Nguyên đơn dân sự có đơn xin giả m nhẹ hì nh phạ t chí nh cho bị cá o và đạ i diệ n cho bị hại cũng đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương, bị cáo được gia đình và chính quyền địa phương có đơn xin bảo lãnh. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu đề nghị cho bị cáo đượ c hưở ng á n treo . Đối chiếu với hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao . Hộ i đồ ng xé t xử xét thấy không cần cách ly bị cáo với xã hội mà cho cải tạo tại địa phương, có sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt , có ích cho xã hội mà vẫn đá p ứ ng đượ c yêu cầ u phò ng, chố ng tộ i phạ m trong cộ ng đồ ng.
Về hình phạt bổ sung : Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đố i vớ i bị cá o.
[4]Về trách nhiệm dân sự:
- Thiệ t hạ i về tí nh mạ ng, sứ c khoẻ :
Đối với bị hại là Lò Thị N : Sau khi tai nạ n xả y ra , bị cáo Bùi Văn T đã tự nguyệ n bồ i thườ ng cho gia đì nh nạ n nhân Lò Thị Nga số tiề n 60.000.000đ (sáu mươi triệ u đồ ng), gia đì nh nạ n nhân đã nhậ n số tiề n trên và không có đ ề nghị gì thêm.
Đối vớ i bị hạ i Lườ ng Văn M: Sau khi tai nạ n xả y ra Lườ ng Văn M từ chố i giám định. Bị cáo đã tự nguyệ n bồ i thườ ng cho anh M số tiề n 15.000.000đ (mười lăm triệ u đồng) anh M không có yêu cầ u gì thêm.
Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y sự thoả thuậ n bồ i thườ ng giữ a bị cá o và đạ i d iệ n gia đì nh bị hạ i , bị hại về bồi thường tính mạng và sức khoẻ là hoàn toàn tự nguyệ n, không bị ai é p buộ c. Do đó cầ n ghi nhậ n sự tự nguyện này.
- Thiệ t hạ i về tà i sả n:
Đối với phần thiệt hại về chiếc xe ô tô BKS 27B – 001.84 của HTX AB, tỉnh Điện Biên là chủ sở hữu , tổ ng giá trị bị thiệ t hạ i là 15.691.000đ (mườ i lăm triệ u sá u trăm chí n mươi mố t nghì n đồ ng ) và thiệt hại về chiếc xe mô tô BKS 26N1 – 050.56 do ông Lườ ng Văn N là chủ sở hữu có giá trị bị thiệt hại là 5.062.000đ (năm triệ u không trăm sá u mươi hai nghì n đồ ng). Tại cơ quan điều tra cũ ng như tạ i đơn xin xé t xử vắ ng mặ t , đạ i diệ n cho nguyên đơn dân sự là ông Hà Văn G và ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan là ông Lườ ng Văn N không có đề nghị gì về phần dân sự nên Hội đồ ng xé t xử không xem xé t.
[5]Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 xe ô tô, nhãn hiệu HUYNHDAI, loại xe ô tô khách , màu trắng đỏ , BKS 27B – 001.84; 01 giấ y chứ ng nhậ n đăn ký xe ô tô 004828 mang tên HTX vậ n chuyể n khá ch , hàng hoá và dịch vụ ; 01 giấ y chứ ng nhậ n đăng kiể m số 5891467 của xe ô tô BKS 27B – 001.84; 01 giấ y chứ ng nhậ n bả o hiể m bắ t buộ c TNDS số 0264169 của xe ô tô . Quá trình điề u tra xá c đị nh số vậ t chứ ng trên thuộ c sở hữ u củ a HTX AB, tỉnh Điện Biên . Ngày 15/10/2018 cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu đã ra quyế t đị nh xử lý vậ t chứ ng trả lại chiếc xe trên cùng giấy tờ liên quan cho ông Hà Văn G là người được giám đốc HTX AB uỷ quyề n là phù hợ p vớ i quy đị nh củ a phá p luậ t.
Đối với một xe mô tô B KS 26N1 – 050.56, nhãn hiệu HONDA , loại xe Wave, màu trắng đen bạc. Là tài sản hợp pháp của ông Lường Văn Nguyễ n. Việ c Lườ ng Văn M lấ y xe củ a gia đì nh đi chơi và xảy ra tai nạ n ông N không biế t. Ngày 11/01/2019 cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu đã ra quyế t đị nh xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông Lườ ng Văn N là phù hợp với quy định của pháp luật.
Việ c giao trả hai loạ i tà i sả n nêu trên cù ng cá c giấ y tờ có liên quan củ a cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu cho chủ sở hữu hợ p phá p đúng quy định tại khoản 2 điều 47 BLHS và điều 106 BLTTHS.
Đối với 01 giấ y phé p lá i xe hạ ng E số : 250140003366 mang tên Bùi Văn T do Sở Giao thông vậ n tả i tỉnh Phú Thọ cấp ngày 12/3/2014 đã đượ c trả lại cho bị cáo tại phiên toà.
Đối với Lường Văn M. Là người điểu khiển xe mô tô BKS 26N1 – 050.56. Quá trình điều tra xác định khi tham gia giao thông Lườ ng Văn M không độ i mũ bảo hiểm, sử dụ ng rượ u, bia (nồ ng độ cồ n 120mg/100ml má u), không có giấ y phé p lái xe. Hành vi trên củ a Lườ ng Văn M vi phạ m và o điể m i khoả n 3, điể m c khoả n 8 Điề u 6; điể m a khoả n 5 Điề u 21 Nghị định 46/2016/NĐ- CP ngà y 26/5/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực g
iao thông đườ ng bộ và đườ ng sắ t. Ngày 06/3/2019, cơ quan CSĐT Công an huyệ n Yên Châu đã ra quyế t đị nh xử phạ t hà nh chính đối với Lường Văn M.
[6]Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyề n khá ng cá o : Bị cáo, ngườ i bị hạ i , ngườ i đạ i diệ n cho bị hạ i , nguyên đơn dân sự , ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan thự c hiệ n quyề n kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Bùi Văn T phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Áp dụng điể m a khoản 1 Điều 260, Điểm b, s khoả n 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luậ t hì nh sự , Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngà y 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Xử phạt Bùi Văn T 16 (mườ i sá u) tháng tù, cho hưở ng á n treo, thờ i gian thử thách 32 ( ba mươi hai) tháng tính từ ngà y tuyên á n sơ thẩ m.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Bùi Văn T cho UBND phườ ng T, thành phố H, tỉnh Hoà Bình giám sát, giáo dục trong thờ i gian thử thá ch.
Trườ ng hợ p ngườ i đượ c hưở ng á n treo thay đổ i nơi cư trú thì thự c hiệ n theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 69 Luậ t Thi hà nh á n hì nh sự .
Trong thờ i gian thử thá ch , ngườ i đượ c hưở ng á n treo cố ý vi phạ m nghĩa vụ hai lầ n trở lên thì Toà á n có thể quyế t đị nh buộ c ngườ i đượ c hưở ng á n treo phả i chấ p hà nh hì nh phạ t tù củ a bả n á n đã cho hưở ng á n treo.
2. Áp dụng Điều 584, Điều 586, Điều 589; Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015:
Ghi nhậ n sự tự nguyệ n thoả thuậ n củ a bị cá o cho gia đì nh nạ n nhân Lò Thị N (Đạ i diệ n hợ p phá p là ông Lò Văn N) là 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng), cho anh Lườ ng Văn M là 15.000.000đ (Mườ i lăm triệ u đồ ng).
3. Về vật chứng của vụ án: áp dụng khoản 2, Điề u 47 BLHS, điể m a khoả n 3, Điề u 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tuyên trả cho bị cáo Bùi Văn T tại phiên toà : 01 giấ y phé p lá i xe hạ ng E số : 250140003366 mang tên Bùi Văn T do Sở Giao thông vậ n t ải tỉnh Phú Thọ cấp ngày 12/3/2014.
Ghi nhậ n việ c Cơ quan cả nh sá t điề u tra công an huyệ n Yên Châu đã trả
cho HTX AB, tỉnh Điện Biên cho ông Hà Văn Giang là người được gi ám đốc HTX AB thành phố Điện Biên uỷ quyền 01 xe ô tô, nhãn hiệu HUYNHDAI, loại xe ô tô khá ch, màu trắng đỏ, BKS 27B – 001.84; 01 giấ y chứ ng nhậ n đăn ký xe ô tô 004828 mang tên HTX vậ n chuyể n khách, hàng hoá và dịch vụ; 01 giấ y chứ ng nhậ n đăng kiể m số 5891467 của xe ô tô BKS 27B – 001.84; 01 giấ y chứ ng nhậ n bảo hiểm bắt buộc TNDS số 0264169 của xe ô tô.
Trả cho ông ông Lườ ng Văn N , trú tại bản C, xã T, huyệ n Y, tỉnh Sơn La 01 xe mô tô BKS 26N1 – 050.56, nhãn hiệu HONDA , loại xe Wave , màu trắng đen bạ c.
4. Về Án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp án phí HSSTlà 200.000 đồng.
Án xử công khai sơ thẩ m có mặ t bị cá o; ngườ i đạ i diệ n hợ p phá p củ a ngườ i bị hại; bị hại; ngườ i có quyề n lợ i, tài sản liên quan, vắ ng mặ t nguyên đơn dân sự . Báo cho biế t đượ c quyề n khá ng cá o trong hạ n luậ t đị nh là 15 ngày kể từ ngày tuyên án đố i vớ i ngườ i có mặ t và 15 ngày kể từ ngà y nhậ n đượ c bả n á n hoặ c bả n á n đượ c niêm yế t đố i vớ i ngườ i vắ ng mặ t.
| Nơi nhận: - TAT; - VKS (3); - UBND xã Gia Tân; - Bị cáo; - Công An (2); - Sở TP; - Người đại diện HP (3); - Người có TS liên quan; - THADS; - THAHS; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨ M PHÁ N – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Hường |