- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Thế Q phạm tội " Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi " - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Thế Q phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HS-ST Ngày 11-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiển.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Cù Thị Hanh.
Bà Lê Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thảo - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2019 theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Lương Thế Q, sinh năm 1987 tại Nam Định.
Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Thế N, sinh năm 1963 và con bà Trần Thị H, sinh năm 1965; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16-12-2018 đến ngày 25-12-2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo Lệnh số 02 ngày 24-12-2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Nam Định.
“Có mặt”.
- Người bị hại: Cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 27-7-2005; “Có mặt”.
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1980. “Có mặt”.
Đều cư trú tại: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Nam Định.
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 27-3-2003; “Vắng mặt”.
+ Anh Trần Văn M, sinh năm 1966; “Vắng mặt”.
+ Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1991; “Vắng mặt”.
Đều cư trú tại: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết và thường xuyên nói chuyện với nhau qua mạng xã hội Facebook nên giữa Lương Thế Q và cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 27-7-2005; trú tại Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Nam Định nảy sinh tình cảm yêu đương với nhau.
Đến khoảng 22 giờ ngày 15-12-2018, sau khi Lương Thế Q ăn cỗ cưới một người bạn tại xã M, huyện V, tỉnh Nam Định. Q ngồi ở bàn uống nước và nhắn tin cho cháu M với nội dung là nhớ M thì cháu M trả lời: “Nhớ thì đến nhà”. Sau đó Q một mình điều khiển xe mô tô Wave α màu trắng BKS 18C1 - 212.59 từ xã M, huyện V, tỉnh Nam Định đến nhà cháu M. Trước khi vào nhà M, Q gửi xe mô tô tại nhà anh Nguyễn Văn M, cách nhà cháu M khoảng 150m, rồi trèo vào nhà M theo lối nhà bỏ hoang (Đã được M hướng dẫn từ trước) để lên phòng riêng của cháu M ở tầng hai. Sau khi gặp được nhau, chỉ có một mình M ở trong phòng, Q và cháu M ngồi nói chuyện ở trên giường ngủ của cháu M được khoảng 5 phút thì cả hai chủ động ôm hôn nhau. Tay trái của Q đưa lên sờ má cháu M, tay phải đặt ở hông trái cháu M. Hai tay cháu M vòng ra sau người Q, ôm hôn nhau được khoảng 2 - 3 phút thì cháu M chủ động đưa hai tay lên kéo cởi áo khoác của Q ra. Sau đó cả Q và cháu M đều chủ động cởi hết quần của mình ra, rồi cả hai nằm lên giường trong tư thế Q nằm sấp đè lên người cháu M còn cháu M nằm ngửa phía dưới. Q kéo áo cháu M lên phía trên, dùng miệng hôn ngậm vú trái của cháu M. Sau đó thực hiện hành vi giao cấu với cháu M được khoảng 2 đến 3 phút thì bị anh Nguyễn Tấn Đ- Là anh trai ruột của cháu M ở phòng bên cạnh phát hiện, gọi gia đình lên bắt quả tang Lương Thế Q về hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thu giữ vật chứng của vụ án gồm: 01 quần vải bò màu đen loại quần nam, 01 thắt lưng màu nâu đen, 01 áo phông cộc tay màu xám, 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu đen thu của Lương Thế Q; Thu của cháu Nguyễn Thị M 01 quần loại chân váy màu da cam, 01 quần lót màu tím nhạt, 01 áo lót màu trắng, 01 áo phông cộc tay màu trắng, 01 điện thoại Samsung màu trắng.
Chiếc quần bò dài cháu M khai mặc trước khi quan hệ tình dục với Lương Thế Q do bị thất lạc nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V không thu giữ được.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 277/18/TD ngày 19-12-2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định đã kết luận đối với cháu M:
+ Kết quả xét nghiệm vi sinh - ký sinh trùng: Hiện tại không thấy xác tinh trùng trong mẫu xét nghiệm.
+ Kết luận: Tầng sinh môn bình thường; Màng trinh giãn không có điểm chảy máu; âm đạo có ít dịch đục và dịch viêm.
VÒ trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì vì sự việc xảy ra là do cháu M tự nguyện, không bị ép buộc gì. Nhưng đến ngày 27-02-2019, bị cáo Q đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000đ. Bà Nguyễn Thị T là đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận đủ số tiền trên và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 06/CT-VKSVB ngày 21-01-2019 của Viện kiểm sát nhận dân huyện V đã truy tố bị cáo Lương Thế Q về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
* Bị cáo Lương Thế Q đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên và xin được giảm nhẹ hình phạt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên Q định truy tố bị cáo Lương Thế Q về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lương Thế Q từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần vải bò màu đen, loại quần nam, phía trong cạp quần in dòng chữ VINCENT ROSE; 01 thắt lưng màu nâu đen, tại mặt thắt lưng in dòng chữ POLO LOUES; 01 áo phông cộc tay màu xám, in họa tiết hình ngôi sao và chữ G màu đỏ; 01 quần (loại chân váy) màu da cam; 01 quần lót màu tím nhạt in họa tiết hoa, lá; 01 áo lót màu trắng; 01 áo phông cộc tay màu trắng in dòng chữ Red Valentine do bị cáo và gia đình bị hại không có yêu cầu nhận lại; về án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại; những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra. Nên có đủ căn cứ để kết luận: Do có quen biết nhau và phát sinh tình cảm yêu đương từ trước nên khoảng 22 giờ ngày 15-12-2018, Lương Thế Q đang thực hiện hành vi giao cấu với cháu Nguyễn Thị M, sinh ngày 27-7-2005 tại phòng riêng của cháu M ở Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Nam Định thì bị gia đình cháu M phát hiện, bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến thân thể, danh dự, nhân phẩm của người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của người bị hại mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật song do lối sống buông thả, không kìm chế được dục vọng của bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi Q định hình phạt cũng cần phải xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, có sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 27-02-2019, bị cáo Q đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000đ. Chị Nguyễn Thị T là mẹ đẻ của cháu M đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải Q.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 quần vải bò màu đen loại quần nam, 01 thắt lưng màu nâu đen, 01 áo phông cộc tay màu xám thu giữ của Lương Thế Q và 01 quần loại chân váy màu da cam, 01 quần lót màu tím nhạt, 01 áo lót màu trắng, 01 áo phông cộc tay màu trắng thu giữ của cháu M là vật chứng có giá trị thấp, bị cáo và gia đình bị hại không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu cho tiêu hủy.
Ngày 07-01-2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại cho cháu M chiếc điện thoại samsung màu trắng và trả lại cho bị cáo Q chiếc điện thoại Iphone 6 Plus màu đen là những tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 145; điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Lương Thế Q phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
2. Xử phạt bị cáo Lương Thế Q 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 16-12-2018 đến ngày 25-12-2018).
Giao bị cáo Lương Thế Q cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể Q định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần vải bò màu đen, loại quần nam, phía trong cạp quần in dòng chữ VINCENT ROSE; 01 thắt lưng màu nâu đen, tại mặt thắt lưng in dòng chữ POLO LOUES; 01 áo phông cộc tay màu xám, in họa tiết hình ngôi sao và chữ G màu đỏ; 01 quần (loại chân váy) màu da cam; 01 quần lót màu tím nhạt in họa tiết hoa, lá; 01 áo lót màu trắng; 01 áo phông cộc tay màu trắng in dòng chữ Red Valentine.
(Vật chứng có đặc điểm, chủng loại như biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 22-01-2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị Q số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lương Thế Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện + tỉnh; - Công an huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - Sở tư pháp tỉnh Nam Định; - Phòng PV 27 Công an tỉnh Nam Định; - UBND xã H; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hiển |