vanban.org

Bản án 08/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Tuyên án 14/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phàn A T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tịch thu và tiêu hủy: 0,1381 gam Heroine còn lại. Trả lại cho Tẩn A N: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu NOUVOLX, màu sơn nâu – vàng, biển kiểm soát 20M5 – 6849 và 01 chìa khóa xe. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phàn A T - phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phàn A T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỦA CHÙA
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HS – ST
Ngày 14 -10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Tòng Thị Lan Các Hội thẩm nhân dân: 1. bà Lò Thị Hạnh

2. bà Lò Thị Dậu

- Thư ký phiên tòa: bà Lò Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 10 năm 2019 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2019/TLST – HS ngày 16/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo: Họ và tên: Phàn A T (tên gọi khác: không) - Sinh năm 1988 tại huyện C, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: thôn L, xã S, huyện C, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng, nương; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Dạo; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông Phàn A B ( SN 1952 - đã chết) và bà Lò Thị Nh - SN 1954; có vợ Tẩn Thị H – SN 1988 và 02 con, con lớn nhất – SN 2011, con nhỏ nhất – SN 2013; tiền án: không, tiền sự: không; tạm giữ từ ngày 14/6/2019 đến ngày 17/6/2019; tạm giam từ ngày 17/6/2019 đến nay. Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: + Tẩn A N – SN 1982; Nơi cư trú: thôn 1, xã S, huyện C, tỉnh Điện Biên/vắng mặt không có lý do. + Tẩn Thị H– SN 1988; Nơi cư trú: thôn L, xã S, huyện C, tỉnh Điện Biên/vắng mặt không có lý do.

- Người phiên dịch: ông Phàn A Nh – SN: 1982; Nơi cư trú: thôn M, xã S, huyện C, tỉnh Điện Biên/có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 14/6/2019 bị cáo điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu NOUVOLX, màu nâu vàng, biển kiểm soát 20M5 – 6849 từ thôn L, xã S chở vợ là Tẩn Thị H lên chợ Tả Sìn Thàng chơi và mua đồ dùng sinh hoạt gia đình, khi đến chợ được một lúc bị cáo bảo vợ là Tẩn Thị H đưa chiếc túi vải màu đen cho bị cáo để bị cáo tự đi mua thêm một ít đồ dùng sinh hoạt, cầm được túi bị cáo đi bộ ra trung tâm xã Tả Sìn Thàng thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 30 tuổi (bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ), người phụ nữ hỏi bị cáo có mua ma túy không, bị cáo hỏi lại “ chị có ma túy thật không” người phụ nữ nói “là có” nghe vậy bị cáo đã đồng ý mua và mở túi ra thấy còn một tờ mệnh giá 100.000đ. Bị cáo đưa cho người phụ nữ số tiền 100.000đ, người đó đưa cho bị cáo 01 gói ma túy được gói ngoài bằng giấy nilon màu xanh. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất giấu vào trong túi vải màu đen của Tẩn Thị H rồi quay lại chỗ H đang chờ và đưa lại túi cho H, nhưng bị cáo không nói cho H biết trong túi có ma túy.

Đến 14 gờ 30 phút cùng ngày bị cáo chở vợ về đến khu vực thôn C, xã S, huyện C gặp tổ công tác cảnh sát điều tra Công an huyện C đang làm nhiệm yêu cầu hai người dừng xe kiểm tra, do sợ bị phát hiện có ma túy nên bị cáo đã tăng ga xe mô tô bỏ chạy và nói cho vợ bằng tiếng dân tộc Dạo là “ vứt chiếc ví đi” nghe bị cáo nói vậy Tẩn Thị H đã giật chiếc túi vải màu đen đang đeo trước bụng vứt xuống đường, nhưng đã bị tổ công tác kịp thời phát hiện, qua kiểm tra chiếc túi thấy bên trong có 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy nilon màu xanh có các cục chất bột màu trắng thể rắn (nghi là heroine). Tổ công tác đã thu giữ vật chứng,lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy đối với bị cáo và mời người chứng kiến.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01chiếc xe mô tô, nhãn hiệu NOUVOLX, màu sơn nâu – vàng, biển kiểm soát 20M5 – 6849 (kèm theo 01 chiếc chìa khóa xe);

- 01 gói nhỏ được ngoài bằng giấy nilon màu xanh, bên trong có các cục chất bột màu trắng thể rắn;

- 01 chiếc túi vải màu đen.

Kết luận giám định số: 721/GĐ – PC09 ngày 04/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Phàn A T gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine – có khối lượng 0,1803 gam. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy theo tại Nghị định 73/2018/NĐ – CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Không hoàn lại đối tượng giám định.

Cáo trạng số:09/CT – VKSHTC ngày 16/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Phàn A T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS, đề nghị trả lại 01 chiếc xe mô tô và 01 chiếc khóa xe mô tô cho Tẩn A N; trả lại 01 chiếc túi vải màu đen cho Tẩn Thị H; tịch thu và tiêu hủy 0,1381gam Heroine còn lại; đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và giữ nguyên lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt 02 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xét thấy người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và sự vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử, nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của BLTTHS. [2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và bản kết luận giám định.

Có đủ cơ sở để kết luận vào hồi 08 giờ ngày 14/6/2019 bị cáo đã một mình mua 01 gói Heroine trị giá 100.000đ của một người phụ nữ dân tộc Mông tại khu vực trung tâm Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa, mục đích bị cáo mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được trên đường về đến thôn C, xã S, bị cáo đã bị tổ công tác cảnh sát điều tra Công an huyện Tủa Chùa phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua cất giấu 0,1803gam Heroine, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người đúng tội. [3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. [4] Về hình phạt bổ sung: tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có tài sản riêng, không có thu nhập thường xuyên, nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [5] Về các vấn đề khác có liên quan:

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ, nên HĐXX không có cơ sở xem xét, xử lý.

Đối với Tẩn Thị H không biết việc bị cáo mua ma túy cất giấu trong túi của mình, nên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Đối với Tẩn A N quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ người này không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô của mình mua ma túy nên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. [6] Về vật chứng vụ án:

- 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu NOUVOLX, biển kiểm soát 20M5 – 6849 và chìa khóa xe mô tô đã làm rõ là của Tẩn A Nọi cho gia đình bị cáo mượn từ tháng 02/2019 để làm phương tiện đi lại, nên cần trả lại cho chủ sở hữu pháp Tẩn A Nọi.

- Đối với số Heroine còn lại 0,1381gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.

- 01 chiếc túi vải màu đen bị cáo dùng cất giấu trái phép chất ma túy, nhưng Tẩn Thị Hoạt không biết việc bị cáo cất giấu ma túy trong túi của mình nên cần trả lại cho Tẩn Thị Hoạt. [7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. [8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phàn A T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Phàn A T 01(một) năm 04(bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2019 2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của BLTTHS.

- Tịch thu và tiêu hủy: 0,1381 gam Heroine còn lại.

- Trả lại cho Tẩn A N: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu NOUVOLX, màu sơn nâu – vàng, biển kiểm soát 20M5 – 6849 và 01 chìa khóa xe.

- Trả lại cho Tẩn Thị H: 01 chiếc túi vải màu đen.

Số vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Tủa Chùa đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện C. 3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quán lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 4. Kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/10/2019), đối với Tẩn Thị H, Tẩn A N vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ