vanban.org

Bản án 08/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 02/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Thành S 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Thành S cho Ủy ban nhân dân xã Đồng Thạnh, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh S - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HS-ST
Ngày: 02/4/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Phú.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Xuân Bình.

Bà Ngô Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Huỳnh Phúc Tài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Thạch Văn Ớn - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Thành S, sinh ngày 27/02/2001, tại Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn M và bà: Võ Thị Kim T; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Thành S: Luật sư Nguyễn Tương L - Văn phòng Luật sư Nguyễn Tương L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang (có mặt).

* Người bị hại:

Anh Nguyễn Minh P, sinh năm 1999 (đã chết).

Đại diện theo pháp luật của người bị hại:

- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1966 (là cha ruột của bị hại, xin vắng mặt);

- Bà Lê Thị T, sinh năm 1969 (là mẹ ruột của bị hại, xin vắng mặt);

Cùng cư trú: ấp T, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Võ Thành L, sinh năm 1992 (có mặt);

Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1966 (xin vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp T, xã B , huyện G, tỉnh Tiền Giang.

3. Anh Nguyễn Nhật Q, sinh năm 2000 (xin vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp T, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 10/11/2018, sau khi uống rượu có nồng độ cồn trong máu là 156mg/dl máu, bị cáo Lê Thành S (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô 02 bánh biển số 63B5-370.49 (xe của anh Võ Thành L) chạy với vận tốc khoảng 50km/h trên đường huyện lộ 13, hướng từ ngã tư Đồng Thạnh đi ngã ba Bình Phú. Khi đến đoạn đường thuộc ấp Hòa Thạnh, xã Đồng Thạnh, huyện Gò Công Tây, bị cáo S điều khiển xe lấn trái đường va chạm với xe mô tô 02 bánh không biển số kiểm soát, do Nguyễn Nhật Q điều khiển chở anh Nguyễn Minh P chạy hướng ngược lại gây tai nạn. Hậu quả cả bị cáo S, anh P, anh Q bị thương và hư hỏng 02 xe; đến ngày 11/11/2018 anh P chết.

Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 175/PY-PC09 ngày 20/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận nguyên nhân chết của anh Nguyễn Minh P là do: Tụ máu dưới màng cứng; Tụ máu dưới nhện ở nạn nhân tai nạn giao thông.

Về vật chứng của vụ án, sau khi vụ tai nạn xảy ra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Công Tây đã tiến hành thu giữ:

- Xe mô tô 02 bánh biển kiểm soát 63B5- 370.49, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn xanh - đen, số loại EXCITER, dung tích 149, số máy G3D4E693109, số khung 0610JY665582 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 025353 do Công an huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang cấp cho xe biển số kiểm soát 63B5-370.49. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Võ Thành L là chủ sở hữu.

- Xe mô tô 02 bánh không biểm kiểm soát, số máy VHMCT100E2001788, nhãn hiệu SUPERHALIM, dung tích xi lanh 97cm3, màu sơn nâu, loại xe nữ và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 0161486 do phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Tiền Giang cấp cho xe biển số kiểm soát 63S6-8528. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn H là chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo S và đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T đã thỏa thuận bồi thường với tổng số tiền là 70.000.000 đồng. Ông H, bà T đã nhận tiền xong và có đơn bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo S.

Anh Nguyễn Nhật Q và bị cáo S đã thỏa thuận bồi thường với tổng số tiền là 8.000.000 đồng. Anh Q đã nhận tiền xong và có đơn xin từ chối giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe.

Anh Võ Thành L không yêu cầu bị cáo S bồi thường chi phí sửa chữa xe.

Bản cáo trạng số 07/CT-VKSGCT ngày 04 tháng 03 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây truy tố bị cáo Lê Thành S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thành S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Quyết định truy tố đối với bị cáo tại bản cáo trạng. Đồng thời phân tích các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử phạt bị cáo Lê Thành S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường xong. Ông H, bà T, anh Q và anh L không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Thành S thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết khách quan như mặt đường bên phải theo hướng lưu thông của bị cáo bị hư hỏng nên bị cáo lấn trái, xe anh Q điều khiển không có đèn và anh P không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông dẫn đến chấn thương đầu làm anh P chết. Luật sư L đề nghị cho bị cáo S được hưởng án treo.

Bị cáo S nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận với lỗi lầm của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo để về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Công Tây, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Lê Thành S tại phiên tòa phù hợp với cáo trạng, vật chứng, lời khai người đại diện theo pháp luật của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, bị cáo Lê Thành S đã thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô 02 bánh biển số 63B5-370.49 sau khi đã uống rượu có nồng độ cồn trong máu vượt quá mức quy định (156mg/dl máu), lấn trái đường gây ra tai nạn làm anh Nguyễn Minh P chết. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào các khoản 8, 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008, cụ thể:

“Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

Khoản 8: ...

Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.

Khoản 9: Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

Điều 9. Quy tắc chung

Khoản 1: Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.

Ngoài ra, bị cáo cũng không có giấy phép lái xe theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lê Thành S đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sự an toàn và hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ; đồng thời xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Cụ thể trong vụ án này, bị cáo đã gây ra cái chết đáng tiếc cho anh Nguyễn Minh P. Hiện nay tình trạng vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, gây tai nạn xảy ra rất phổ biến trên phạm vi cả nước nói chung, địa bàn huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang nói riêng. Tai nạn giao thông thật sự là nỗi hoang mang đối với mọi người và hậu quả để lại là vô cùng to lớn. Do vậy, hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, chấn chỉnh ý thức tuân thủ pháp luật của người tham gia giao thông.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; Bên cạnh đó, đại diện người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn là người có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội trong độ tuổi chưa thành niên và có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao về cho gia đình và địa phương quản lý, giám sát cũng sức cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T, anh Nguyễn Nhật Q đã tự thỏa thuận việc bồi thường thiệt hại. Ông H, bà T, anh Q không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Võ Thành L không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí sửa xe nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát và Luật sư là có căn cứ, phù hợp quan điểm nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Lê Thành S 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Thành S cho Ủy ban nhân dân xã Đồng Thạnh, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Lê Thành S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Lê Thành S và anh Võ Thành L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T và anh Nguyễn Nhật Q vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ