- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Định - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HS - ST Ngày: 24/7/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG – TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Đinh Đức Lâm
- Bà Nguyễn Thị Hoa
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2019/TLST - HS ngày 30 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST - HS ngày 12/7/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ - Sinh ngày 08 tháng 6 năm 1971.
Nơi sinh: Tại huyện B, thành phố H;
Nơi cư trú: Tổ 6, phường Đ, thành phố H, tỉnh H;
Nghề nghiệp: Lái xe ; Trình độ văn hóa: 07/10. Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Bố đẻ: Nguyễn Văn Đ - Sinh năm: 1938 (đã chết)
Mẹ đẻ: Nguyễn Thị V - Sinh năm: 1938.
Có vợ: Nguyễn Thị Th - sinh năm 1974
Có 02 con lớn sinh năm 2007 nhỏ sinh năm 2010
Tiền án, tiền sự: Không
Hiện bị cáo tại ngoại (Có mặt tại phiên toà)
Ngƣời bị hại: Ông Trần Văn H; sinh năm 1948 (đã chết)
Đại diện hợp pháp cho ngƣời bị hại:
Anh Trần Minh T - Sinh năm 1980.
Nơi cư trú: Khu 1, TT C, huyện C, tỉnh H (có mặt)
Nguyên đơn dân sự:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại vận tải Th.
Địa chỉ: Km số 3, phố N, xã T, TP H, tỉnh H
Đại diện là ông: Phùng Tiến L
Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Đ là nhân viên lái xe cho hãng Taxi Sông Đà thuộc Công ty TNHH TMVT Tht, có bằng lái xe hạng A1, B2 (giấy phép tích hợp 2 hạng) do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 08/4/2015. Được Công ty giao quản lý, sử dụng xe ô tô BKS: 28A- 017.47 để chở khách.
Khoảng 11h10’ ngày 03/02/2019 Nguyễn Văn Đ điều khiển xe ôtô một mình khi đi đến đoạn đường tại Km 86 + 150m QL6 thuộc khu 1, thị trấn C, tỉnh H. Lúc này ở phần đường bên phải hướng Sơn La - Hà Nội có 01 xe ô tô khách loại xe 45 chỗ ngồi đang dừng đỗ, ông Trần Văn H sinh năm 1948, trú tại khu 1, thị trấn C, huyện C, tỉnh H đang điều khiển xe đạp điện đi bên ngoài (bên trái) xe khách và đi phía trước cùng chiều xe ô tô Nguyễn Văn Đ điều khiển. Do không chú ý quan sát và không làm chủ tốc độ nên xe ôtô Nguyễn Văn Đ điều khiển đã đâm vào phía sau xe đạp điện do ông Trần Văn H điều khiển làm cho ông Trần Văn H bị văng lên và đập đầu vào kính chắn gió phía trước xe ô tô BKS: 28A- 017.47 sau đó xe ôtô tiếp tục di chuyển một đoạn đường dài thì ông H bị rơi xuống mặt đường, còn xe ôtô tiếp tục di chuyển thêm Nguyễn Văn Đ mới đạp phanh và dừng lại ở sát mép đường bên phải hướng Sơn la - Hà Nội. Căn cứ vào kết quả Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm dấu vết phương tiện xác định: Điểm va trạm đầu tiên giữa hai phương tiện là vị trí bên phải biển số phía trước đầu xe ô tô BKS 28A-017.47 và thép chắn bùn, lốp bánh sau xe đạp điện để lại trên hiện trường chính là đầu vết day trượt lốp của xe đạp điện.
Sau khi tai nạn xảy ra, ông Trần Văn Hải bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình sau đó đã tử vong.
Tại bản kết luận giám định số 26/GĐPY-CAT-PC09 ngày 10/2/2019 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H xác định: Nạn nhân bị chấn thương vùng: đầu, mặt, tay, chân do tác động va đập bởi vật tày rắn gây nên các tổn thương: Gãy đốt sống cổ, gãy xương hàm, gãy xương đòn và nhiều vết xây sát, rách ra trên cơ thể nạn nhân.
Kết luận: Nạn nhân chết do gãy đốt sống cổ.
Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSCP ngày 29/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố Nguyễn Văn Đ về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong thực hành quyền công tố sau khi phân tích hành vi, tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, đã giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ tội" Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Áp dụng điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn Đ từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã tự thỏa thuận bồi thường cho gia đình nạn nhân Trần Văn H số tiền là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) và gia đình có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Văn Đ, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên không đề cập giải quyết. Trả lại bằng lái xe cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử cho mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa.
Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại, đại diện VKS huyện Cao Phong không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về nội dung:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện, bản kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ do đó có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Nguyễn Văn Đ có giấy phép lái xe tô tô theo quy định, khoảng 11h10’ ngày 03/2/2019 Nguyễn Văn Đ điều khiển xe ô tô Kia Moring BKS: 28A- 017.47, khi đi đến Km 86 + 150m - QL6 thuộc khu 1, thị trấn Cao Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình do không chú ý quan sát và không làm chủ tốc độ nên đã đâm vào phía sau xe đạp điện do ông Trần Văn H điều khiển. Hậu quả làm cho ông Trần Văn H bị thương nặng và tử vong. Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm Điều 12 - Luật giao thông đường bộ, và Khoản 1, Điều 5 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, sức khỏe, tài sản của người khác. Ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội gây mất mát về mặt tinh thần đối với gia đình nạn nhân.
Trong vụ án này, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe theo quy định, nhận thức được việc điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ phải làm chủ tốc độ xe và giữ khoảng cách an toàn với các phương tiện tham gia giao thông khác nhưng xuất phát từ lỗi vô ý do cẩu thả, bị cáo đã không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó. Đoạn đường xảy ra tại nạn là đoạn đường thẳng, đường rộng, thông thoáng và không bị che khuất tầm nhìn nhưng do không chú ý quan sát và không làm chủ tốc độ nên đã gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm chết một người.
Hành vi của bị cáo cũng như hậu quả gây ra đối với người bị hại đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo đƣợc hƣởng và phải chịu:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; đã tích cực bồi thường khắc phục hậu quả; Gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để Hội đồng xét xử làm căn cứ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần có mức hình phạt tù phù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, xét bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tại địa phương luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo do đó không cần cách ly bị cáo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định một thời gian thử thách nhất định cũng đủ để giáo dục bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự
Trong giai đoạn khởi tố vụ án bị cáo Đ và gia đình bị hại đã tự thoả thuận số tiền bồi thường là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) Xét thấy sự thoả thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận, không đề cập xem xét thêm.
* Đối với xe ôtô nhãn hiệu Kia Moring BKS: 28A- 017.47 đăng ký mang tên Công ty TNHH thương mại - vận tải Thanh Chắt là xe của bị cáo Nguyễn Văn Đ dùng xe để góp vốn vào Công ty (Đ là chủ sở hữu và toàn quyền sử dụng xe) và hàng tháng Đ phải đóng tiền quản lý và phí thuê thương hiệu theo quy định của Công ty. Do đó Công ty TNHH thương mại - vận tải Th không bị thiệt hại gì nên không yêu cầu bồi thường. Do vậy Tòa không đề cập xem xét.
. Về tang vật của vụ án:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Phong đã tạm giữ xe ôtô BKS: 28A- 017.47 và một xe đạp điện. Ngày 14/3/2019 Cơ quan điều tra đã quyết định trả xe ôtô BKS: 28A- 017.47 và toàn bộ giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu sửa chữa và tiếp tục sử dụng. Ngày 18/3/2019 Cơ quan điều tra đã trả xe đạp điện cho gia đình bị hại, các bên đều không có ý kiến gì nên Tòa không đề cập giải quyết.
Hiện tại cơ quan điều tra đang tạm thu giữ của Nguyễn Văn Đ 01 Giấy phép lái xe số 170073000341 ngày 08/4/2015 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hòa Bình cấp. Xét bị cáo Đ vẫn còn đủ sức khỏe và nghiệp vụ để lái xe, nên trả lại cho bị cáo.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn Đ 15 (Mười lăm) tháng tù cho huởng án treo, chịu thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/7/2019).
Giao Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố H giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn Đ có trách nhiệm phố hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp hình phạt của bản án trước theo quy định tại điều 55, 56 của Bộ luật hình sự.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 BLTTHS Trả lại cho Nguyễn Văn Định: 01 Giấy phép lái xe số 170073000341 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hòa Bình cấp ngày 08/4/2015.
3. Án phí: Căn cứ điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt (nguyên đơn dân sự) có quyền làm đơn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết tại trụ sở UBND nơi thường trú.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh Hòa Bình. - VKSND huyện Cao Phong; - Phòng 7 - VKSND tỉnh HB - Công an huyện Cao Phong; - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình. - Đội THAHS và HTTP CA huyện CP; - Chi cục THADS huyện Cao Phong; - THA hình sự; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |