- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------------------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HNGĐ-ST Ngày 26/4/2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Diệu Thúy
Ông Nguyễn Văn Kình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 26/4/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2019/TLST-HNGĐ ngày 18/01/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXX-ST ngày 25/3/2019, Quyết định hoãn định hoãn phiên tòa số 06/2019/QĐST-HNGĐ ngày 1/4/2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1987; (có mặt)
- Bị đơn:
Chị Nguyễn Thị H
, sinh năm 1991; (vắng mặt).
Cùng đăng ký hộ khẩu và nơi ở: Số AA ngõ A0A phố P, quận H, thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện; Bản tự khai ngày 24/01/2019; Biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 01/3/2019 và ngày 18/3/2019; nguyên đơn là anh Nguyễn Ngọc H trình bày:
- Về tình cảm: Anh Nguyễn Ngọc H và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, thành phố H ngày 27/11/2012. Sau khi kết hôn anh chị về nhà bố mẹ anh H để ở. Thời gian anh chị sống tại nhà bố mẹ anh H, vợ chồng anh không có công sức cải tạo, sửa chữa gì. Quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị H không có việc làm ổn định, vay nợ của nhiều người, bản thân anh H và gia đình anh đã phải trả nợ thay chị H nhiều lần, gia đình anh thường xuyên sống trong tình trạng có người đến đòi nợ, anh cùng gia đình đã khuyên bảo nhiêu lần song chị H vẫn không thay đổi. Đến tháng 10/2018 thì chị H bỏ nhà đi trốn nợ, không về nhà từ đó cho đến nay và không cho anh biết chị đang ở đâu, làm gì, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Từ khi chị H bỏ đi nơi khác ở chị không về nhà thăm con lần nào, chỉ gọi điện hỏi thăm con rồi tắt máy, bản thân anh H cũng chỉ gặp được chị H một lần tại trụ sở công an phường C vào tháng 11/2018 do chị H bị giữ về hành vi vay nợ của người khác và chị H gọi điện cho anh đến để trả nợ thay chị H, kể từ đó đến nay anh không gặp chị H lần nào.
Nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh H đề nghị Tòa án sớm giải quyết cho anh được ly hôn với chị H để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Anh H và chị H có 03 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T (nữ); sinh ngày 05/3/2013; Nguyễn Ngọc Bảo A (nữ); sinh ngày 23/5/2015; Nguyễn Ngọc Đoàn B (nam); sinh ngày 12/01/2018. Ly hôn, anh H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung (động sản; bất động sản) và công nợ chung: Anh H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài những yêu cầu trên anh H không đề nghị Tòa án giải quyết thêm vấn đề nào khác.
Tại phiên tòa hôm nay, chị H vắng mặt. Anh H vẫn giữ nguyên những yêu cầu đã trình bày.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H phát biểu ý kiến về việc tuân theo Pháp luật Tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư
ký tòa án và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu; các đương sự chấp hành yêu cầu của Tòa án về việc giao nộp chứng cứ.
- Nguyên đơn có mặt; Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết việc ly hôn, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 21, 28, 35, 39 ,147, 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 04/2017/NQ – HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Ngọc H đối với chị Nguyễn Thị H.
- Về con chung: Giao 03 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T (nữ); sinh ngày 05/3/2013; Nguyễn Ngọc Bảo A (nữ); sinh ngày 23/5/2015; Nguyễn Ngọc Đoàn B (nam); sinh ngày 12/01/2018 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Anh H khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về công nợ chung: Anh H khai anh chị không nợ ai và không cho ai vay nợ nên không xem xét.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh H phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả thảo luận, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Ngọc H có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn đối với chị Nguyễn Thị H. Do đó, đây là vụ án tranh chấp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là chị Nguyễn Thị H cư trú tại số AA ngõ A0A phố P, quận H, thành phố H, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân quận H, thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Về trình tự tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn Ngọc H có mặt. Bị đơn là chị Nguyễn Thị H vắng mặt. Đối với chị H, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án từ Thông báo thụ lý vụ án; Giấy báo đến Tòa án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải (2 lần); quyết định xét xử; quyết định hoãn phiên tòa, song chị H vẫn vắng mặt không lý do. Việc chị H không đến Tòa án để giải quyết, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không báo cho anh H biết điều đó chứng tỏ chị H đã cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự, và hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
- Về tình cảm: Anh Nguyễn Ngọc H và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, thành phố H ngày 27/11/2012 là hợp pháp.
Quá trình chung sống anh H và chị H chỉ hòa thuận được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H vay nợ của người ngoài cũng như của gia đình anh, gia đình thường xuyên sống trong tình trạng có người đến đòi nợ, dẫn đến mâu thuẫn không giải quyết được và cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Từ tháng 11 năm 2018 chị H đã bỏ đi nơi khác ở để tránh nợ và vợ chồng sống ly thân nhau từ đó đến nay. Anh H xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được, không có khả năng đoàn tụ, tình cảm vợ chồng không còn, anh kiên quyết xin ly hôn.
Hội đồng xét xử thấy, hôn nhân tồn tại phải trên cơ sở tình cảm tự nguyện của cả hai bên, không vì bất cứ mục đích nào khác. Thực tế hôn nhân anh chị đã không tồn tại từ tháng 11 năm 2018 khi anh chị sống ly thân cho đến nay, mỗi người sống một nơi không còn quan tâm đến nhau nữa.
Trong thời gian ly thân, chị H đã chuyển đến ở nơi khác và không cho anh H biết địa chỉ nơi ở, vợ chồng không liên lạc với nhau nên không đưa ra được biện pháp gì để cải thiện tình cảm vợ chồng, do vậy anh H cương quyết xin ly hôn để ổn định cuộc sống. Do cuộc sống chung vợ chồng giữa anh H và chị H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc anh H yêu cầu được ly hôn với chị H là có căn cứ, phù hợp thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cần được chấp nhận.
- Về con chung: Anh H và chị H có 03 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T (nữ); sinh ngày 05/3/2013; Nguyễn Ngọc Bảo A (nữ); sinh ngày 23/5/2015; Nguyễn Ngọc Đoàn B (nam); sinh ngày 12/01/2018. Ly hôn, anh H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con.
Hội đồng xét xử nhận thấy từ tháng 11 năm 2018 anh H chị H đã sống ly thân, anh H và các con vẫn ở nhà mẹ đẻ anh cho đến nay, các cháu vẫn khỏe mạnh, phát triển bình thường, anh H có công việc thu nhập ổn định. Do đó để tránh xáo trộn cuộc sống và đảm bảo cho các con chung của anh chị có đời sống tinh thần, điều kiện vật chất cũng như đảm bảo quyền lợi và sự phát triển toàn diện một cách tốt nhất nên chấp nhận yêu cầu của anh H, tiếp tục giao 03 con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Ghi nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở; tuy nhiên nếu chị H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con thì anh H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của chị H theo Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 .
- Về tài sản, nhà đất ở chung: Anh H, khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Sau ly hôn anh H tự lo nơi ở của mình.
- Về công nợ chung: Anh H khai không nợ ai, không ai nợ anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; anh Hiệp phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Điều 28, 35, 39, 147, 192, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc H được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
2. Về con chung: Xác nhận anh H và chị H có 03 con chung là:
- Nguyễn Ngọc Bảo T (nữ); sinh ngày 05/3/2013;
- Nguyễn Ngọc Bảo A (nữ); sinh ngày 23/5/2015;
- Nguyễn Ngọc Đoàn B (nam); sinh ngày 12/01/2018;
Giao cả 03 con chung cho anh Nguyễn Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, kể từ tháng 04/2019 đến năm các con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con.
Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của chị H nếu chị H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung.
3. Về tài sản chung: (gồm động sản và bất động sản): Anh H khai không có, không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
4 .Về công nợ chung: Anh H khai anh chị không nợ ai và không ai vay nợ anh chị, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
5. Về án phí: Anh Nguyễn Ngọc H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002806 ngày 16/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận H, thành phố H.
Anh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Chị H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP H; - VKSND quận H; - Chi cục THADS quận H; - UBND phường Đ; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Thanh Bình |