vanban.org

Bản án 08/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Xích K

Về quan hệ con chung: Giao cháu Nguyễn Thiên Q, sinh ngày 23/7/2018 cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, Anh Nguyễn Xích K không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị C. Chị C cam đoan đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành. Sau khi ly hôn, bên không tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị C xin ly hôn anh K"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Xích K
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HNGĐ-ST
Ngày 03/7/2019
V/v: Ly hôn và tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hiền và ông Lê Văn Đặng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Đức – Kiểm sát viên

Ngày 03/7/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 99/2018/TLST-HNGĐ ngày 07/12/2018, về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/5/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2019/QĐHNGĐ-HPT ngày 13/6/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, địa chỉ: Xóm 4, Thôn T, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Xích K, địa chỉ: Xóm 4, Thôn T, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 19/11/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Xích K kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 05/10/2017. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng ở tại Xóm 4, thôn Tr, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh K thường hay chửi mắng, đánh đập chị, ngoài ra, chị cho rằng, 2 người không hợp tính tình, bất đồng quan điểm, lối sống nên không hợp nhau, từ đó không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không khắc phục được, chị bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, do vậy chị làm đơn xin được ly hôn anh Nguyễn Xích K.

Về quan hệ con chung: Chị và anh Nguyễn Xích K có 01 con chung tên là Nguyễn Thiên Q, sinh ngày 23/7/2018, hiện nay đang ở với chị. Khi ly hôn chị có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh K phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Chị cam đoan đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị C vẫn giữ nguyên quan điểm: Xin ly hôn anh K, xin được nuôi con và không yêu cầu anh K cấp dưỡng, chị không yêu cầu giải quyết về chia tài sản chung, nợ chung của vợ chồng.

Bị đơn anh Nguyễn Xích K vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết nên không tự khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh có quan điểm:

Về người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, về quan hệ hôn nhân: đề nghị áp dung Điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Xích K; về con chung: áp dung Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung cho chị C trực tiếp nuôi, anh K không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con; về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án có quan hệ tranh chấp Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự có nơi cư trú tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, do vậy, căn cứ Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Xích K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Anh Nguyễn Xích K được Tòa án triệu tập 02 lần đến tham gia tố tụng tại phiên tòa vào các ngày 13/6/2019 và ngày 03/7/2019 nhưng anh K vẫn vắng mặt không có lý do. Qua xác minh tại công an xã V, anh Nguyễn Xích K có hộ khẩu thường trú tại xóm 4, thôn T, xã Võ N, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Hiện nay anh K vẫn đang làm ăn sinh sống địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Xích K.

Về quan hệ hôn nhân:

Theo lời trình bày của các đương sự, chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Xích K có quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 05/10/2017 như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh K là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật và xã hội công nhận.

Chị C cho rằng mâu thuẫn tình cảm vợ chồng không thể khắc phục được, bởi lẽ vợ chồng không hợp tính tình, lối sống, bất đồng quan điểm, anh K thường hay chửi mắng, đánh đập chị nên thường xảy ra xung đột, cãi vã, chị trình bày không còn tình cảm với anh K nên cương quyết xin ly hôn.

Xét tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh K: Qua xác minh tại địa phương nơi cư trú, quá trình chung sống anh chị có xảy ra mâu thuẫn, chị C bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Qua xác minh tại địa phương, anh K thường hay đánh đập, chửi mắng vợ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, đoàn thể, chính quyền nơi anh chị sinh sống cũng đã khuyên can, hòa giải nhưng vẫn không hàn gắn được; ngoài ra, Tòa án cũng tiến hành triệu tập anh K nhiều lần đến để tổ chức phiên hòa giải nhưng anh K đều vắng mặt, đến ngày 15/5/2019, anh K đến Tòa án nhưng sau khi được hướng dẫn viết bản tự khai, anh không chịu giao nộp và bỏ về, chứng tỏ anh K không có thiện chí để hàn gắn lại hạnh phúc gia đình. Xét mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó nếu buộc anh chị về đoàn tụ thì cuộc sống vợ chồng cũng không cải thiện được, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị C được ly hôn với anh K là phù hợp.

Về quan hệ con chung:

Chị C trình bày, chị và anh K có 01 con chung tên là Nguyễn Thiên Q, sinh ngày 23/7/2018, hiện nay đang ở với chị C, chị có nguyện vọng xin được nuôi con và không yêu cầu anh K phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị. Qua xem xét nguyện vọng của đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tại biên bản xác minh, địa phương cho biết chị C và anh K có 01 con chung, cháu hiện nay đang ở với chị C tại thôn T, xã V, huyện Quảng Ninh, cháu Q hiện nay dưới 36 tháng tuổi, Hội đồng xét xử xét thấy, nhằm đảm bảo ổn định về điều kiện chăm sóc và sinh sống cho cháu sau khi anh chị ly hôn, nghĩ nên giao cháu Q cho chị C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, chị C không yêu cầu anh K cấp dưỡng, chị cam đoan đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng đây là sự tự nguyện của đương sự nên chấp nhận, do vậy anh K không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị C là phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Các đương không ai có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị C phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn để sung vào ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Xích K

2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Nguyễn Thiên Q, sinh ngày 23/7/2018 cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, Anh Nguyễn Xích K không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị C. Chị C cam đoan đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành.

Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ qua lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản

3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không ai có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

4. Án phí: Chị Nguyễn Thị C phải chịu nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0004662 ngày 07/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Chị C đã nộp đủ án phí theo quy định.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án của Tòa án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ