vanban.org

Bản án 08/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Thùy A1 được ly hôn với anh Phan Thanh Tr.

Về con chung: Giao cháu Phan Thái A2, sinh ngày 24/4/2017 cho chị Ngô Thị Thùy A1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh Phan Thanh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình về việc ly hôn giữa chị A và anh Tr"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Thùy A1 được ly hôn với anh Phan Thanh Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH SƠN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 29/5/2019
V/v tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi
con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN – TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Na Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Kim Khánh 2. Bà Phan Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn – tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn – tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Huy Tất Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 162/2018/LHST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Thùy A1, sinh năm 1993 – Trú tại: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Phan Thanh Tr, sinh năm 1993 – Trú tại: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23/8/2018 của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án chị Ngô Thị Thùy A1 trình bày: Chị và anh Phan Thanh Tr lấy nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Z, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình chung sống do tính tình không hợp nên mâu thuẫn gia đình thường xảy ra. Nay chị xin được ly hôn với anh Tr.

- Về con chung: có 01 người con chung là cháu Phan Thái A2, sinh ngày 24/4/2017. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu A2, chị không yêu cầu anh Tr phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có

Quá trình giải quyết, bị đơn anh Phan Thanh Tr trình bày: Anh và chị Ngô Thị Thùy A1 lấy nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Z, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình chung sống do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên mâu thuẫn vợ chồng thường xảy ra. Hiện nay anh và chị A1 không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay chị A1 xin được ly hôn với anh, anh không đồng ý, xin được về đoàn tụ.

- Về con chung: có 01 người con chung là cháu Phan Thái A2, sinh ngày 24/4/2017. Khi ly hôn anh xin được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu A2 và không yêu cầu chị A1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm. Đối với bị đơn không chấp hành đúng việc tuân theo pháp luật tố tụng tại thời điểm xét xử. Tuy nhiên sự vắng mặt lần thứ hai của bị đơn không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn không có kiến nghị gì.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn về việc giải quyết vụ án:

-Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Ninh Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên xử: Chị Ngô Thị Thùy A1 được ly hôn với anh Phan Thanh Tr.

- Về con chung: Giao cháu A2 cho chị A1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

-Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh

tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng dân sự: Chị Ngô Thị Thùy A1 có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận giải quyết việc hôn nhân, nuôi con chung của anh chị. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Thùy A1 và anh Phan Thanh Tr lấy nhau vào năm 2016, có đăng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Z, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình chung sống do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên mâu thuẫn vợ chồng thường xảy ra. Hiện nay chị A1 và anh Tr không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay chị A1 xin được ly hôn với anh Tr, anh Tr không đồng ý, xin được về đoàn tụ.

Qua xác minh tại địa phương cho thấy: mâu thuẫn giữa chị A1 và anh Tr đã ở mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần áp dụng các quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 giải quyết cho chị A1 được ly hôn với anh Tr là phù hợp.

Về con chung: Có 01 người con chung là cháu Phan Thái A2, sinh ngày 24/4/2017. Khi ly hôn, chị A1 và anh Tr đều xin được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu A2 và không yêu cầu bên kia phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét điều kiện thực tế và theo quy định con dưới 36 tháng tuổi phải giao cho mẹ trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Vì vậy căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu A2 cho chị A1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không xét đến.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị A1 là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị Thùy A1 và anh Phan Thanh Tr được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Thùy A1 được ly hôn với anh Phan Thanh Tr.

- Về con chung: Giao cháu Phan Thái A2, sinh ngày 24/4/2017 cho chị Ngô Thị Thùy A1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh Phan Thanh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về án phí: Chị Ngô Thị Thùy A1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0013643 ngày 05/12/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Sơn. Chị Ngô Thị Thùy A1 đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị Thùy A1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/5/2019). Anh Phan Thanh Tr được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ