- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, con chung"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG TỈNH GIA LAI —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HNGĐ-ST Ngày: 23/10/2019 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Nam Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hà và ông Võ Văn Ninh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Lộc – Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 10 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nhƣ Q – sinh năm: 1993
Trú tại: Thôn 76, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Kiều Thanh L – sinh năm: 1990
Trú tại: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 13/5/2019 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Như Q yêu cầu khởi kiện như sau:
Bà Nguyễn Thị Như Q và ông Kiều Thanh L kết hôn vào ngày 27/4/2015 có đăng kí tại UBND xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến giữa năm 2016 vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường hay cãi vã. Nguyên nhân do ông L hay đi làm xa, thường đi sớm về khuya không chăm sóc cho vợ con. Từ cuối năm 2016 ông bà đã sống ly thân, bà Q ở nhà mẹ đẻ tại huyện Đ còn ông L ở nhà mẹ đẻ tại huyện M. Cả hai không còn quan tâm, hỏi han gì đến nhau. Ông L và gia đình ông L cũng không thăm cháu.
Vì mâu thuẫn đã kéo dài, hôn nhân không có hạnh phúc nên bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông L.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên là Kiều Nguyễn Duy Kh – sinh ngày: 24/4/2016. Bà Q có nguyện vọng trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng vì bà có công việc đủ điều kiện nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Q xác định vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Kiều Thanh L đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không có yêu cầu gì. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 17/7/2019 và tại các buổi hòa giải ngày 17/7/2019 và ngày 02/8/2019, cũng như tại phiên tòa ngày 09/10/2019. Tại phiên tòa hôm nay ông L vắng mặt không có lý do.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến nay, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt nên không có lời trình bày trong hồ sơ vụ án, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông L có đăng ký kết hôn theo quy định là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống ông bà đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống cũng không có hạnh phúc và từ cuối năm 2016 đến nay ông bà cũng không còn chung sống với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn của hai vợ chồng ông L và bà Q đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Q. Về con chung: Ông L và bà Q có 01 con chung là Kiều Nguyễn Duy Kh. Hiện con đang ở với bà Q, do bà Q chăm sóc. Vì vậy đề nghị giao con chung cho bà Q nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, bà Q không yêu cầu ông L cấp dưỡng. Về tài sản chung, bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung bà xác định ông bà không có nợ chung. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, bà Q phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bị đơn ông Kiều Thanh L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mang Yang xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Như Q và ông Kiều Thanh L kết hôn vào năm 2015 có đăng ký tại UBND xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Điều này phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã Đ cấp số 22, quyển số 01/2015, ngày 27/4/2015 mà bà Q đã giao nộp. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông L là hợp pháp. Quá trình thụ lý vụ án xác định ông L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Vì vậy Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
Về mâu thuẫn gia đình: Trong quá trình chung sống ông L và bà Q có xảy ra mâu thuẫn. Hiện ông bà đang sống ly thân từ cuối năm 2016 cho đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông L làm nghề lái xe nên thường hay vắng nhà, không quan tâm chăm sóc cho vợ con nên vợ chồng thường mâu thuẫn. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông L đều vắng mặt mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần. Điều đó thể hiện ông L không có thiện chí muốn hòa giải đoàn tụ với bà Q. Ngoài ra, trong thời gian sống ly thân hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau mà mặc ai nấy sống dẫn đến tình cảm hiện nay không còn. Tình trạng mâu thuẫn do nguyên đơn trình bày phù hợp với biên bản xác minh ngày 20/8/2019 tại thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai.
Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Q và ông L không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Q.
Về con chung: Bà Q và ông L có 01 con chung tên là Kiều Nguyễn Duy Kh – sinh ngày: 24/4/2016. Bà Q có nguyện vọng trực tiếp nuôi con vì từ ngày ông bà sống ly thân, con do bà Q trực tiếp chăm sóc. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Q không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà Q xác định vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Như Q được ly hôn với ông Kiều Thanh L.
Về con chung: Giao con Kiều Nguyễn Duy Kh – sinh ngày: 24/4/2016 cho bà Nguyễn Thị Như Q trực tiếp nuôi khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Như Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0000907 ngày 15/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Bà Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Về thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/10/2019), đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Mang Yang; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Mang Yang (khi án có hiệu lực); - UBND xã Đăk Yă, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai (khi án có hiệu lực) - Lưu HS, AV. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trương Nam Trung |