- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Phạm Văn R phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƢỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2018/HSST Ngày 10 tháng 4 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƢỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lƣ Trƣờng Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Danh Hƣởng
2. Bà Dƣơng Thị Tú Phƣơng
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Phước Long – tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long – tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long – tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 06/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Văn R - sinh năm 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; chổ ở: số Q, H, khu phố K, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T (chết) và bà Võ Thị L; Có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2017 đến nay (có mặt).
* Người bị hại: Anh Trần Văn B – sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Nguyễn Văn T (N) - sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Thanh S (N), sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp H, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 24/01/2017, Phạm Văn R từ Thành phố Hồ Chí Minh đi đến nhà anh Trần Văn B thuộc ấp Mỹ Tân, xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu để chơi. Sáng ngày 27/01/2017, Phạm Văn R mượn xe mô tô của anh B mang biển kiểm soát 94E1-212.80 để chở anh Trần Văn K (là anh ruột của anh B) đi uống ước (anh B khai để trong cốp xe số tiền 11.800.000đ). Sau khi uống nước, R chở anh Bàng về nhà, trên đường về nhà anh Bàng ghé nhà anh Lê Văn N uống rượu, còn R chạy xe về nhà anh B đậu trước sân (R chưa trả chìa khóa xe cho anh B). Sau đó, R tiếp tục lấy xe của anh B đến nhà anh Lê Văn T ngồi chơi, do anh B đang uống rượu nhà anh Trường. Ngồi được một khoảng thời gian, R tiếp tục chạy xe về nhà đậu trước sân và chưa trả lại xe cho anh B. Sau khi uống rượu, anh B về nhà ngủ; R lấy quần áo, tư trang để lên xe rồi lấy xe chạy đi, có bà Lê Thị Lài (mẹ ruột anh B) nhìn thấy. Khi anh Bàng về biết R lấy xe đi nên anh B mới điện thoại cho R hỏi lấy xe đi đâu, R nói lấy xe anh B về Thành phố Hồ Chí Minh rồi kêu anh B mùng một tết lên lấy xe về.
Ngày 29/01/2017 (nhằm ngày mùng 02 tết), R lấy xe anh B đến ấp Tân Lợi, xã Tân Tuyến, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang để thăm con. Khi đó, anh B gọi điện thoại kêu R trả xe nhưng R nói mượn xe đến ngày mùng 04 tết sẽ trả, sau đó R tắt máy điện thoại để anh B không liên lạc được. R tiếp tục điều khiển xe đến địa bàn xã Phú Thuận, huyện Thoại S, tỉnh An Giang tham gia đá gà ăn tiền và nhờ anh Nguyễn Văn T đứng ra đá hộ. Khi tham gia đá gà, R thua tổng số tiền 3.200.000đ, do không có tiền trả nên R đưa xe của anh B cho anh T để anh T thế chấp cho anh Nguyễn Thanh S (là người ăn độ gà R) với tổng số tiền 5.200.000đ (trong đó 3.200.000đ tiền thua đá gà và 2.000.000đ tiền nợ anh T trước đó. Phạm Văn R không có tiền chuộc xe lại cho anh B đến nay.
Tại kết luận định giá trị tài sản ngày 06/9/2017 của Hội đồng định giá trị tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phước Long kết luận: xe gắn máy hiệu YAMAHA, loại xe Sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 94E1-212.80 có giá trị còn lại là 19.420.095đ.
Tại bản cáo trạng số: 03/CT- VKSPL - KSĐT ngày 30 tháng 01 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long truy tố bị cáo Phạm Văn R về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm, kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Văn R, phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo mức án 06 tháng 07 ngày tù, thời hạn tạm giam đã bằng thời hạn tù; đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Đối với số tiền 11.800.000đ, bị cáo không thừa nhận lấy trộm và quá trình điều tra chưa đủ cơ sở chứng minh do bị cáo chiếm đoạt; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của anh B yêu cầu bị cáo trả số tiền 11.800.000đ.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra bị cáo đã vận động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại với số tiền 3.000.000đ xong, bị hại không còn yêu cầu bồi thường thêm về phần trách nhiệm dân sự nên đề nghị không đặt ra, xem xét. Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị hại xe 94E1 – 212.80 và 01 thẻ ATM Seabank có các chữ số 970440050124109651 mang tên anh B, bên trong không có tiền.
Đối với hành vi đá gà thắng thua bằng tiền xảy ra tại chợ Kênh Đào, xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phước Long chuyển tin để xử lý theo thẩm quyền là có căn cứ. Đối với số tiền cầm xe 94E1 -212.80 do anh S không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Lời bào chữa của bị cáo Phạm Văn R: thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận tội danh và điều luật áp dụng, thống nhất đề nghị xử lý vật chứng theo quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, anh B trình bày: đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật, yêu cầu bị cáo trả số tiền 11.800.000đ để trong cốp xe, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm về trách nhiệm dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phước Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền; trình tự, thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan R hành tố tụng, người R hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan R hành tố tụng, người R hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy, hành vi phạm tội xảy ra vào ngày 27/01/2017 đến ngày 10/4/2018 vụ án được đưa ra xét xử là thời điểm Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực. Tuy nhiên hình phạt đối với tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhẹ hơn so với quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Trên nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, do đó, Hội đồng xét xử R hành xét xử bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp.
Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Phạm Văn R đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, lời khai người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: ngày 27/01/2017, bị cáo Phạm Văn R đã mượn xe của anh B nhưng không trả lại mà tiếp tục sử dụng xe để thế chấp lấy tiền sử dụng vào việc đánh bạc; như vậy, hành vi thế chấp xe để trả tiền đánh bạc là sử dụng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Tại kết luận định giá trị tài sản ngày 06/9/2017 của Hội đồng định giá trị tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phước Long kết luận: 01 xe Sirius màu đỏ đen biển số kiểm soát 94E1 -212.80 có giá trị sử dụng còn lại là 19.420.095đ.
Trên cơ sở đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Văn R đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số: 03/CT- VKSPL-KSĐT ngày 30 tháng 01 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ bằng lỗi cố ý trực tiếp và đã hoàn thành tội phạm. Hành vi của bị cáo không những gây ảnh hưởng về mặt vật chất cho người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Xét về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo Phạm Văn R là xuất phát từ động cư vụ lợi cá nhân, lười lao động, thích hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tuy nhiên xét về nhân thân, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, tài sản bị trộm cắp cũng đã được thu hồi trả cho bị hại. Người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi áp dụng hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần áp dụng tù có thời hạn bằng thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Xét đề nghị của kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng 07 (B) ngày tù, là phù hợp như Hội đồng xét xử phân tích nêu trên nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 điện thoại Nokia số Imei 1 351732/06/96674415, số Imei 2 351732/06/966745/2; 01 sim điện thoại Vinaphone có các chữ số 89840200010606964716; 01 sim điện thoại Vinaphone trên sim có các chữ số 89840200021660384295; 01 giấy chứng minh nhân dân số 022968816 cấp ngày 25/11/2005 nơi cấp Công an Thành phố Hồ Chí Minh, xét thấy không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, Cơ quan điều tra đã trả cho bị cáo là có căn cứ.
Trả cho anh B 01 xe nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu đỏ đen, số máy 5C6K248703, số khung RLCS5C6K0FY248704, biển kiểm soát 94E1- 212.80 do anh Trần Văn B đứng tên đăng ký xe; 01 thẻ tín dụng Seabank mang tên Trần Văn B, có các chữ số 9704400501242109651.
Các vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Long quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/01/2018 (bút lục số 200).
Đối với số tiền 11.800.000đ, anh B xác định để trong cốp xe nhưng ngoài lời khai thì anh B không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, không có người nào khác chứng kiến. Mặt khác, bị cáo không thừa nhận có chiếm đoạt của bị hại số tiền 11.800.000đ. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để chứng minh bị cáo có chiếm đoạt; do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của anh B yêu cầu bị cáo trả số tiền 11.800.000đ.
Đối với số tiền cầm xe 94E1 -212.80 do anh S không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Đối với hành vi đá gà thắng thua bằng tiền xảy ra tại chợ Kênh Đào, xã Phú Thuận, huyện Thoại S, tỉnh An Giang đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phước Long chuyển tin để xử lý theo thẩm quyền là có căn cứ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật là 200.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố bị cáo Phạm Văn R phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
2/ Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phạm Văn R mức án 06 (sáu) tháng 07 (bảy) ngày tù, bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2017 đến ngày 10/4/2018, thời hạn tạm giam đã bằng thời hạn tù.
Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Phạm Văn R đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
3/ Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Không nhận yêu cầu của anh Trần Văn B yêu cầu bị cáo Phạm Văn R trả số tiền 11.800.000đ.
4/ Về vật chứng: công nhận việc xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả cho anh B 01 xe nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu đỏ đen, số máy 5C6K248703, số khung RLCS5C6K0FY248704, biển kiểm soát 94E1 212.80 do anh Trần Văn B đứng tên đăng ký xe; 01 thẻ tín dụng Seabank mang tên Trần Văn B, có các chữ số 9704400501242109651, trong thẻ không có tiền.
Các vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Long quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/01/2018.
5/ Về án phí: áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6/ Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Phước Long; - Công an huyện Phước Long; - Chi cục THADS Phước Long; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lƣ Trƣờng Lâm |