vanban.org

Bản án 08/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 24/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B (Nguyễn Văn B) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B (Nguyễn Văn B) 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2018. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Bình (Nguyễn Văn Bình) phậm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B (Nguyễn Văn B) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2018/HS-ST
Ngày 24-5-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Mai Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Đạo

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Anh Đào –Thư ký Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh B –Tên gọi khác: Nguyễn Văn B;

Sinh ngày 22/12/1971, tại huyện T, tỉnh Yên Bái.

Nơi cư trú: Khu phố 3, thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1948 – đều trú tại khu phố 3, thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái; Có vợ là Tạ Thị Bích Ng, sinh năm 1972 và có một con sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 18/12/1997 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” chấp hành xong hình phạt tù năm 1998, chấp hành xong án phí hình sự năm 2005 (bản án số 44/1997/HSST).

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/01/2018; tạm giam từ ngày 11/01/2018 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái – Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đinh Đăng S, sinh năm 1973 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái.

2. Chị Tạ Thị Bích Ng, sinh năm 1972 – Có mặt.

Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dụng vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 30 phút, ngày 09/01/2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma tuý Công an huyện T phát hiện một nam thanh niên đi bộ, đeo túi khoác màu đen đi trên đoạn đường đất nối từ đường tỉnh lộ đi vào đền Cửa Ngòi thuộc địa phận khu phố 1, thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái nghi vấn có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên đã tiến hành kiểm tra đối tượng thì đối tượng có biểu hiện chống đối vứt từ trên người xuống đường một gói giấy màu trắng. Đối tượng khai nhận tên là Nguyễn Văn B, sinh năm 1971 – trú tại Khu phố 3, thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái. Cơ quan điều tra thu giữ tại hiện trường: tại đường đất 01(một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) bên trong có 01(một) đoạn ống nhựa màu hồng, gần gói giấy màu trắng thu 01(một) đoạn ống nhựa màu xanh; thu trên người Nguyễn Văn B 01(một) túi khoác màu đen (túi đựng máy vi tính) bên trong có 01(một) túi nilon màu hồng (trong túi nilon có 04 đoạn ống nhựa gồm: 02(hai) đoạn ống nhựa màu hồng, 01(một) đoạn ống nhựa màu tím, 01(một) đoạn nhựa màu vàng) tất cả các đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, 01(một) máy tính xách tay nhãn hiệu DELL; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu “itel”, 01(một) xe mô tô BKS 21T6- 3114. Thu tại nhà Nguyễn Thanh B: 05(năm) đoạn ống nhựa các màu, một đầu hàn kín, một đầu hở, 01(một) ống Novocain và 01(một) xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng, kim và xi lanh dính chất dịch màu hồng, 02(hai) xi lanh loại 3ml/cc và 01(một) ống Novocain chưa sử dụng.

Quá trình điều tra Nguyễn Thanh B khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 08/01/2018 bị cáo mua ma tuý của người đàn ông tên D ở xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái 02 gói ma tuý (Heroine) ở cổng sân vận động thị trấn C, huyện T. Do không có tiền bị cáo đã lấy máy tính xách tay của gia đình để cầm cố cho D, khi nào có tiền thì trả cho D 200.000đồng. Sau khi mua được ma tuý bị cáo mang về nhà và sử dụng hết cho bản thân. Đến khoảng 16 giờ, ngày 09/01/2018 bị cáo gọi điện thoại cho D hỏi mua 06(sáu) tép heroine, D đồng ý và hỏi bị cáo có lấy máy tính không? D bảo bị cáo cứ cầm lấy hôm sau trả tiền. Sau đó, D gọi điện cho bị cáo hẹn địa điểm là đi lên dốc vào đền Cửa Ngòi thuộc khu phố 1, thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái. Bị cáo dặn D để riêng 02 tép ma tuý, còn 04 tép ma tuý để trong túi xách máy tính. Bị cáo đã gặp Đinh Đăng S, sinh năm 1973, trú tại: khu phố 5, thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái hỏi mượn S 01(một) xe mô tô BKS 21T6-3114 để đi có việc, S đồng ý. Bị cáo điều khiển xe mô tô đi đến cổng nhà máy Giấy thuộc khu phố 1, thị trấn C, huyện T để xe ở đường và đi bộ lên lối vào đền Cửa Ngòi và đứng đợi khoảng 10 phút thì D đến đưa cho bị cáo 01 gói giấy (loại giấy ăn), D bảo với bị cáo là bên trong có 02(hai) tép ma tuý và đưa cho bị cáo máy tính được đựng trong túi xách màu đen và bảo bị cáo bên trong có 04 tép ma tuý, bị cáo đưa cho D 400.000đồng. D cầm tiền đi về còn bị cáo đi bộ ra lấy xe mô tô thì bị bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 36/GĐMT, ngày 16/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: “Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn B có tổng trọng lượng là: 0,22 gam (không phẩy hai mươi hai); 0,08 gam trích từ 0,22 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma tuý; loại Heroine; Heroine nằm trong Danh mục1, STT:20, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.”

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSTY ngày 11/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái truy tố Nguyễn Thanh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thanh B đã khai báo thành khẩn, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như bản cáo trạng của Đại diện Viện kiểm sát huyện T, tỉnh Yên Bái là đúng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Đăng S vắng mặt nhưng đã nhận lại tài sản và chị Tạ Thị Bích Ng đã nhận lại tài sản, không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Thanh B từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời gian tính từ ngày bắt tạm giữ 09/01/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 xe mô tô YAMAHA nhãn hiệu NOUVO biển kiểm soát 21T6-3114 và 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu DELL đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “itel” màu đen.

+ Tịch thu tiêu huỷ: 0,14 gam chất ma tuý Heroin là mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư dán kín của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành; 01(một) que thử ma tuý được niêm phong trong một phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành; 01(một) túi nilon màu hồng; 01(một) mảnh giấy màu trắng (loại giấy ăn); 03(ba) đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu hàn kín, một đầu hở; 01(một) ống Novocain đã qua sử dụng; 01(một) đoạn ống nhựa màu tím, một đầu hàn kín, một đầu hở; 01(một) đoạn ống nhựa màu hồng, một đầu hàn kín, một đầu hở; 02(hai) xi lanh loại 3ml/cc chưa qua sử dụng; 01(một) ống Novocain chưa qua sử dụng; 01(một) xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng, bên trong kim và xi lanh dính chất dịch màu hồng; 12 (mười hai) đoạn ống nhựa (được cắt ra từ 06 ống ban đầu).

Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 09/01/2018, tại khu phố 1, thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái Nguyễn Thanh B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,22 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Xét bị cáo Nguyễn Thanh B có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma tuý là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm lưu hành, có tác hại lớn đến sức khoẻ con người và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác trong xã hội, nhưng để thoả mãn cơ nghiện bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn và có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, xâm phạm đến tình hình trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về nhân thân và các tình tiết tăng tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, ngày 18/12/1997 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” đến nay đã được xoá án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống mỹ hạng nhất đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Từ những nhận định trên, trên cơ sở xem xét toàn diện tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng. Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Các đối tượng khác:

Đối với người đàn ông tên D bán ma túy cho Nguyễn Thanh B theo lời khai của bị cáo D có địa chỉ tại xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái. Qua xác minh không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý, nếu có căn cứ đầy đủ sẽ được xử lý trong vụ án khác là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường. Vì vậy, trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Về vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô YAMAHA nhãn hiệu NOUVO biển kiểm soát 21T6-3114 khi anh S cho bị cáo mượn không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều đã trả lại cho anh S là phù hợp. 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu DELL là tài sản chung của bị cáo và chị Tạ Thị Bích Ng, khi mang máy tính đi cầm cố mua ma tuý chị Ng không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Ng là phù hợp.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “itel” màu đen bị cáo đã dùng vào việc giao dịch mua ma tuý cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với 0,14 gam chất ma tuý Heroin là mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư dán kín của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành; 01(một) que thử ma tuý được niêm phong trong một phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành; 01(một) túi nilon màu hồng; 01(một) mảnh giấy màu trắng (loại giấy ăn); 03(ba) đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu hàn kín, một đầu hở; 01(một) ống Novocain đã qua sử dụng; 01(một) đoạn ống nhựa màu tím, một đầu hàn kín, một đầu hở; 01(một) đoạn ống nhựa màu hồng, một đầu hàn kín, một đầu hở; 02(hai) xi lanh loại 3ml/cc chưa qua sử dụng; 01(một) ống Novocain chưa qua sử dụng; 01(một) xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng, bên trong kim và xi lanh dính chất dịch màu hồng; 12 (mười hai) đoạn ống nhựa (được cắt từ 06 đoạn ống ban đầu) là vật chứng liên quan đến việc phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B (Nguyễn Văn B) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B (Nguyễn Văn B) 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2018.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu “itel” màu đen.

- Tịch thu tiêu huỷ: 0,14 gam chất ma tuý Heroin là mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư dán kín của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành; 01(một) que thử ma tuý được niêm phong trong một phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành; 01(một) túi nilon màu hồng; 01(một) mảnh giấy màu trắng (loại giấy ăn); 03(ba) đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu hàn kín, một đầu hở; 01(một) ống Novocain đã qua sử dụng; 01(một) đoạn ống nhựa màu tím, một đầu hàn kín, một đầu hở; 01(một) đoạn ống nhựa màu hồng, một đầu hàn kín, một đầu hở; 02(hai) xi lanh loại 3ml/cc chưa qua sử dụng; 01(một) ống Novocain chưa qua sử dụng; 01(một) xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng, bên trong kim và xi lanh dính chất dịch màu hồng và 12 (mười hai) đoạn ống nhựa (được cắt từ 06 ống ban đầu).

(Đặc điểm chi tiết toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Yên Bái).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ