vanban.org

Bản án 08/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Lê Xuân V.

Về con chung: Giao con Lê Anh T, sinh ngày 21/10/2006cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Lê Xuân V không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Lê Xuân V.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2018/HNGĐ-ST
Ngày 15-11-2018
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Tân.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Tư và ông Trần Đăng Thanh.

- Thư ký phiên tòa:Ông Đinh Văn Tư - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoành - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/TLST-HNGĐ ngày 17- 5 -2017 về việc "ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2018/QĐST-HNGĐ ngày 01/11/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:Chị Hoàng Thị T; Sinh năm: 1976; Địa chỉ: Thôn T, xã K, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Xuân V; Sinh năm: 1969; Địa chỉ: Thôn T, xã K, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày: Chị và anh Lê Xuân V kết hôn vào ngày 11/12/1998 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã được hai bên gia đình đồng ý và UBND xã K, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau được một thời gian đến năm 2016 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh V suốt ngày rượu chè, hay ngược đãi, hành hung vợ con không tôn trọng chị và các con. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 02/2017 đến nay.Hiện chị T xác định không còn tình cảm với anh V nữa nên yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn anh V. Về con chung vợ chồng có 02 con chung là Lê Thị Tú A, sinh ngày 19/7/1999 và Lê Anh T, sinh ngày 21/10/2006. Chị T yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung chị rút yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung.

Bị đơn anh Lê Xuân V trình bày:Anh thống nhất về thời điểm cũng như sự tự nguyện khi kết hôn. Anh V cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 02/2017 nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất hòa không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Anh V cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn nên mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nhằm xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái nên anh không đồng ý ly hôn. Về con chung anh V không đồng ý việc ly hôn nên anh không yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Về tài sản chung anh V không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết, tại biên bản lấy lời khai và tại phiên hòa giải ngày 20/9/2018 anh V chỉ yêu cầu chị T trả lại đất ở cho bà Chuẩn( mẹ anh V), anh không làm đơn yêu cầu tòa án giải quyết.

Cháu Lê Anh T có đơn nguyện vọng xin được ở với mẹ là chị Hoàng Thị T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.Bị đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Về tình cảm: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Lê Xuân V. Về con chung: Đề nghị căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Lê Anh T cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con Lê Thị Tú A hiện nay đã đủ tuổi trưởng thành việc cháu ở với ai tùy thuộc vào quyền của cháu, đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị T về không yêu cầu anh Lê Xuân V phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản chung: Đề nghị HĐXX đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Lê Xuân V kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kỳ Hải, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Chị T cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là anh V suốt ngày rượu chè, hay ngược đãi, hành hung vợ con nhiều lần dẫn đến mâu thuẫn trong gia đình. Anh V mong muốn vợ chồng về đoàn tụ, tuy nhiên không có phương án, việc làm cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Qua xác minh của Tòa án tại Ủy ban nhân dân xã Kỳ Hưng thì anh V, chị T mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau. Hội đồng xét xử thấy rằng anh V, chị T đã sống ly thân từ tháng 02/2017 mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Lê Xuân V.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Thị Tú A, sinh ngày 19/7/1999( đã đủ tuổi trưởng thành) và Lê Anh T, sinh ngày 21/10/2006. Chị Hoàng Thị T đều yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy con chung Lê Thị Tú A đã đủ tuổi trưởng thành nên việc ở với ai tùy thuộc vào quyền của cháu . Cháu Lê Anh T có nguyện vọng sống với mẹ, hiện nay chị T đang làm nghề buôn bán, có thu nhập hàng tháng ổn định đủ điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng con. Còn anh Lê Xuân V trình bày tại phiên tòa hiện anh đang làm nghề tự do thường xuyên phải đi làm xa. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Lê Anh T cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị T về không yêu cầu anh Lê Xuân V phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Theo đơn khởi kiện ngày 27/03/2017 chị Hoàng Thị T có yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Nhưng đến ngày 07/8/2018 chị T đã có đơn rút yêu cầu chia tài sản chung và giải quyết nợ chung. Anh Lê Xuân V không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về tài sản, anh chỉ yêu cầu chị T trả lại đất ở cho bà Chuẩn(mẹ anh V), anh V không làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Yêu cầu của anh V đã và đang được Ủy ban nhân dân Thị xã Kỳ Anh và Ủy ban nhân dân xã Kỳ Hưng giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.Như vậy nguyên đơn rút yêu cầu chia tài sản chung và giải quyết nợ chung, bị đơn không có yêu cầu, vì vậy căn cứ vào Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy địnhcủa pháp luật.

Về án phí: Chị Hoàng Thị T là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình nên phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Lê Xuân V.

2. Về con chung: Giao con Lê Anh T, sinh ngày 21/10/2006cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Lê Xuân V không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng)án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0006751 ngày 16 tháng 5 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tiền án phí chị T đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn,bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ