- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LH (G-H)"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Hương G được ly hôn anh Phạm Quang H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2018/HNGĐ-ST Ngày 23- 01-2018 V/v ly hôn tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Bà Phạm Thị Bấm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 386/2017/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2007 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1028/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Hương G, sinh năm 1984; ĐKHKTT: Số 24 lô 2/317C đường Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; tạm trú: Số 113 +114 lô 3E đường L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Phạm Quang H, sinh năm 1982; ĐKHKTT: Số 24 lô 2/317C đường Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; tạm trú: Số 113 +114 lô 3E đường L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Hương G trình bày:
Chị và anh Phạm Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường V, quận N, Hải Phòng ngày 04/10/2006. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm và không chung thủy về tình cảm dẫn đến việc vợ chồng xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng. Đến nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không có hạnh phúc, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng.
- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Phạm Ngọc L, sinh ngày 26/9/2007 và Phạm Ngọc K, sinh ngày 04/5/2012. Ly hôn chị đề nghị được nuôi hai con Phạm Ngọc L và Phạm Ngọc K. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn anh Phạm Quang H trình bày tại bản tự khai như sau:
Anh và chị Trần Hương G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường V, quận N, Hải Phòng ngày 04/10/2006. Quá trình chung sống anh chị có xảy ra bất hòa, xô sát, to tiếng với nhau, nguyên nhân do không tin tưởng nhau trong tình cảm. Nay chị Giang xin ly hôn, anh đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị đoàn tụ để các con đỡ khổ, trường hợp chị G cương quyết xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Phạm Ngọc L, sinh ngày 26/9/2007 và Phạm Ngọc K, sinh ngày 04/5/2012. Ly hôn anh đề nghị được nuôi hai con Phạm Ngọc L và Phạm Ngọc K. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải 02 lần. Tại biên bản hòa giải ngày 24/10/2017 quan điểm của anh chị như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị G đề nghi được ly hôn, anh H đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị đoàn tụ để các con đỡ khổ, trường hợp chị G cương quyết xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn. Về việc nuôi con: Chị G và anh H có hai con chung là Phạm Ngọc L, sinh ngày 26/9/2007 và Phạm Ngọc K, sinh ngày 04/5/2012. Ly hôn, chị G và anh H đều đề nghị được nuôi hai con Phạm Ngọc L và Phạm Ngọc K. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về việc chia tài sản: Chị G và anh H không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên toà, chị Trần Hương G và anh Phạm Quang H vẫn giữ nguyên quan điểm như bản tự khai và hòa giải tại Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Hương G được ly hôn anh Phạm Quang H; Về việc nuôi con: Giao con chung là Phạm Ngọc L, sinh ngày 26/9/2007 cho chị G nuôi, giao con chung là Phạm Ngọc K, sinh ngày 04/5/2012 cho anh H nuôi. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết; Về việc chia tài sản: Chị G và anh H không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết; Về án phí: Chị Giang phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Phạm Quang H cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 04 tháng 12 năm 2017, Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1028/2017/QĐXXST-HNGĐ và đã tống đạt hợp lệ quyết định trên cho anh H nhưng tại phiên toà ngày 26/12/2017 anh H vắng mặt lần thứ nhất. Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên toà số 1095/2017/QĐST-HNGĐ trong đó ấn định phiên tòa được mở lại vào hồi 8 giờ 00 phút ngày 23/01/2018.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Hương G và anh Phạm Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình và tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam. Anh chị đã đăng ký kết hôn tại phường Uỷ ban nhân dân phường V, quận N, Hải Phòng ngày 04/10/2006. Vì vậy, hôn nhân giữa chị G và anh H là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Quá trình chung sống anh chị sống hòa thuận đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm và không chung thủy về tình cảm dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát cãi nhau. Qua xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn chính là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, không tin tưởng nhau trong tình cảm dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xô sát đánh cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng. Quan điểm của gia đình, địa phương đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được đề nghị Toà án giải quyết cho chị G được ly hôn anh H. Xét mâu thuẫn giữa chị G và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị G đối với anh H.
Về việc nuôi con: Chị Trần Hương G và anh Phạm Quang H có hai con chung là Phạm Ngọc L, sinh ngày 26/9/2007 và Phạm Ngọc K, sinh ngày 04/5/2012. Ly hôn chị G và anh H đều đề nghị được nuôi cả hai con. Hội đồng xét xử xét thấy chị G và anh H đều có công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dạy con. Hai con của anh chị đều là con gái, cháu Phạm Ngọc L có nguyện vọng được ở với mẹ nên giao cho chị Giang nuôi con Phạm Ngọc L, giao con Phạm Ngọc K cho anh H nuôi phù hợp với quy định của pháp luật theo Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Về việc chia tài sản: Chị Trần Hương G và anh Phạm Quang H không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Hương G phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Hương G được ly hôn anh Phạm Quang H.
- Về việc nuôi con: Giao con chung là Phạm Ngọc L, sinh ngày 26/9/2007 cho chị Trần Hương G trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con chung là Phạm Ngọc K, sinh ngày 04/5/2012 cho anh Phạm Quang H trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về việc chia tài sản: Chị Trần Hương G và anh Phạm Quang H không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Hương G phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002002 ngày 05/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Trần Hương G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Trần Hương G và anh Phạm Quang H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - UBND phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, Hải Phòng; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hương THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hương |