- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Đ ều 466, Đ ều 357 c a Bộ luật dân sự nă 2015; Đ ều 27, Đ ều 37 c a Luật
- Căn cứ chính? Luật hôn nhân và g a đình nă; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật tố tụng dân sự nă
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 08/2018/DS-ST Ngày: 30 / 01 /2018 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Th ph n - Ch t a ph ên t a: Ông Lương Ngọc Dũng.
Các Hộ th nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Anh Đào.
2. Bà Nguyễn Thị Minh Chuyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Hiền – Thư ký Tòa án của Tòa án
nhân dân huyện T, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh An Giang tham gia
phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Phong, Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 01 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T,
tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
194/2017/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp
đồng vay tà sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2017/QĐXXST-
DS ngày 20 tháng 12 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số:
05/2018/QĐST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân M, địa chỉ trụ sở: Số 16A,
đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Ngườ đạ d ện theo ph p luật: Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1984, địa
chỉ: Số 18, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, chức vụ: Chủ
tịch Hội đồng quản trị Quỹ tín dụng nhân dân M.
Ngườ đạ d ện theo y quyền: Ông Trần Minh N, sinh năm 1986, địa
chỉ: Số 4553, ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang, chức vụ: Cán bộ tín
dụng (Giấy ủy quyền ngày 01/8/2017), có mặt.
2. Đồng bị đơn:
- Ông Võ Văn T, sinh năm 1976, địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
- Bà Phạm Mai Đ, sinh năm 1977, địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An
Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 01 tháng 8 năm 2017, bản tự khai và
tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn là ông Trần Minh N trình bày:
Ngày 15/7/2015, ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ có ký Hợp đồng
tín dụng số TC00500364/HĐTD với Quỹ tín dụng nhân dân M để vay số tiền 180.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, từ ngày 15/7/2015 đến ngày 15/7/2016, lãi suất trong hạn 1.1%/tháng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, việc vay ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ có thế chấp tài sản theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC00500364/HĐTC ngày 15/7/2015 là quyền sử dụng diện tích đất nông nghiệp 11620 m2 toạ lạc ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 264354, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H0759hK do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 18/4/2008 đứng tên ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ.
Từ lúc vay đến nay ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ chưa trả tiền
vốn, trả tiền lãi được 01 tháng (từ ngày 15/7/2015 đến ngày 15/8/2015) số tiền là 1.980.000 đồng. Hiện còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân M tiền vốn vay là 180.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn (từ ngày 15/8/2015 đến ngày 15/7/2016) là 22.110.000 đồng và tiền lãi quá hạn (từ ngày 15/7/2016 đến ngày 30/01/2018) là 55.836.000 đồng, tổng cộng vốn, lãi là 257.946.000 đồng. Nay Quỹ tín dụng nhân dân M khởi kiện yêu cầu ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ trả dứt điểm một lần tiền vốn vay là 180.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, quá hạn chưa thanh toán cho đến khi thanh toán dứt điểm tiền vốn vay, tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thu hồi nợ.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ đến làm
việc về yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân M nhưng ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án không lấy lời khai ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ được.
Tòa án đã tổ chức hòa giải giữa các đương sự nhưng không tiến
hành hòa giải được do ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa đại diện Quỹ tín dụng nhân dân M vẫn giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện. Ông Võ Văn T thống nhất lời trình bày của đại diện Quỹ tín dụng nhân dân M về số tiền vốn vay, tiền lãi còn nợ theo hợp đồng, đồng ý trả
nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân M, nhưng không đưa ra được phương thức trả
nợ.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp
luật tranh chấp, tư cách đương sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án, thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ đúng quy định
pháp luật. Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố
tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện
đúng các quy định tố tụng tại phiên toà.
- Về việc chấp hành pháp luật: Các đương sự đã thực hiện đúng các
quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên toà.
- Về nội dung vụ án: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp được ký
kết giữa Quỹ tín dụng nhân dân M với ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ trên
cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung không trái pháp luật nên làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng. Ông Võ Văn T và bà
Phạm Mai Đ đã vi phạm hợp đồng nên Quỹ tín dụng nhân dân M khởi kiện là
có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín
dụng nhân dân M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, người
tham gia tố tụng và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn vay và tiền lãi còn nợ
theo hợp đồng, xét đây là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng dân sự vay tài sản
nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều
26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn khởi kiện tại Tòa
án và đã nộp tạm ứng án phí nên Tòa án thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Bị đơn là bà Phạm Mai Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai
nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà
Phạm Mai Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ
[2] Về nội dung:
Hợp đồng tín dụng số TC00500364/HĐTD ngày 15/7/2015 được ký kết
giữa Quỹ tín dụng nhân dân M với ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung không trái quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Theo đại diện nguyên đơn là ông Trần Minh N trình bày từ lúc vay đến
nay ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ chưa trả tiền vốn, đã trả tiền lãi được 01 tháng (từ ngày 15/7/2015 đến ngày 15/8/2015) số tiền là 1.980.000 đồng, hiện còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân M tiền vốn vay là 180.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn (từ ngày 15/8/2015 đến ngày 15/7/2016) là 22.110.000 đồng và tiền lãi quá hạn (từ ngày 15/7/2016 đến ngày 30/01/2018) là 55.836.000 đồng, tổng cộng vốn, lãi là 257.946.000 đồng. Ông Võ Văn T thống nhất lời trình bày của đại diện Quỹ tín dụng nhân dân M về số tiền vốn vay, tiền lãi còn nợ, đồng ý trả nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân M. Ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay theo thỏa thuận hợp đồng, do đó Quỹ tín dụng nhân dân M khởi kiện yêu cầu thanh toán nợ là có căn cứ. Xét buộc ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ có trách nhiệm trả cho Quỹ tín dụng nhân dân M tiền vốn vay là 180.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn (từ ngày 15/8/2015 đến ngày 15/7/2016) là 22.110.000 đồng và tiền lãi quá hạn (từ ngày 15/7/2016 đến ngày 30/01/2018) là 55.836.000 đồng, tổng cộng vốn, lãi là 257.946.000 đồng.
Ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ dùng tài sản là quyền sử dụng diện
tích đất nông nghiệp 11620 m2 toạ lạc ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 264354, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H0759hK do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 18/4/2008 đứng tên ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ để thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC00500364/HĐTC ngày 15/7/2015 được ký kết giữa Quỹ tín dụng nhân dân M với ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ nhằm bảo đảm khoản nợ vay Hợp đồng tín dụng số TC00500364/HĐTD ngày 15/7/2015. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số TC00500364/HĐTC ngày 15/7/2015 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung không trái pháp luật, có công chứng tại Văn phòng Công chứng Tịnh Biên và đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T nên đã phát sinh hiệu lực. Do đó tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án.
[3] Về án phí:
Ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Quỹ tín dụng nhân dân M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và
được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Đ ều 95 c a Luật c c tổ chức tín dụng; Đ ều 463,
Đ ều 466, Đ ều 357 c a Bộ luật dân sự nă 2015; Đ ều 27, Đ ều 37 c a Luật
hôn nhân và g a đình nă 2014; Đ ều 147, Đ ều 271, Đ ều 273 c a Bộ luật tố
tụng dân sự nă 2015; Đ ều 26 c a Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 th ng 12 nă 2016 c a Ủy ban Thường vụ Quốc hộ quy định về
ức thu, ễn, g ả , thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí T a n.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân M.
Buộc ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ có trách nhiệm trả cho Quỹ tín
dụng nhân dân M số tiền là 257.946.000 (Hai trăm năm mươi bảy triệu, chín
trăm bốn mươi sáu ngàn) đồng, gồm tiền vốn vay là 180.000.000 (Một trăm
tám mươi triệu) đồng, tiền lãi là 77.946.000 (Bảy mươi bảy triệu, chín trăm
bốn mươi sáu ngàn) đồng.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
TC00500364/HĐTC ngày 15/7/2015 được ký kết giữa Quỹ tín dụng nhân dân
M với ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ để đảm bảo thi hành án.
Kể từ ngày t ếp theo c a ngày xét xử sơ th kh ch hàng vay c n
phả t ếp tục chịu khoản t ền lã qu hạn c a số t ền nợ gốc chưa thanh to n
theo ức lã suất à c c bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến kh thanh
to n xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên
có thỏa thuận về v ệc đ ều chỉnh lã suất cho vay theo từng thờ kỳ c a Ngân
hàng cho vay thì lã suất à kh ch hàng vay phả t ếp tục thanh to n cho
Ngân hàng cho vay theo quyết định c a T a n cũng sẽ được đ ều chỉnh cho
phù hợp vớ sự đ ều chỉnh lã suất c a Ngân hàng cho vay.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Võ Văn T và bà Phạm Mai Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là
12.897.000 (Mười hai triệu, tám trăm chín mươi bảy ngàn) đồng.
Quỹ tín dụng nhân dân M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm,
hoàn trả cho Quỹ tín dụng nhân dân M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là
4.500.000 (Bốn triệu năm trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Toà án số TU/2016/0003860 ngày 20/10/2017 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện T.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng cáo của đương sự vắng
mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án
được niêm yết.
Trường hợp bản n, quyết định được th hành theo quy định tạ Đ ều 2
Luật Th hành n dân sự thì ngườ được th hành n dân sự, ngườ phả th
hành n dân sự có quyền thỏa thuận th hành n, quyền yêu cầu th hành n, tự nguyện th hành n hoặc bị cưỡng chế th hành n theo quy định tạ c c đ ều 6, 7 và 9 Luật Th hành n dân sự; thờ h ệu th hành n được thực h ện theo quy định tạ Đ ều 30 Luật Th hành n dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Anh Đào Nguyễn Thị Minh Chuyên
Lương Ngọc Dũng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận:
- Đương sự;
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
- Viện KSND huyện Tịnh Biên;
- Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
- Chi cục THADS huyện Tịnh Biên;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu Văn phòng.
Lương Ngọc Dũng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện KSND huyện Tịnh Biên; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Chi cục THADS huyện Tịnh Biên; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Lương Ngọc Dũng |