- Tranh chấp gì? án hình sự — "HỒ VĂN H - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn Hải phạm tội “Hủy hoại rừng”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 08 /2017/HS-ST Ngày 22/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Đinh Hồng Danh – Trưởng phòng Kinh tế hạ tầng.
Đơn vị công tác: Phòng Kinh tế Hạ tầng huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
+ Ông Nguyễn Tấn Phát – Cán bộ hưu trí.
Địa chỉ: Xã Trà Phú, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Công Danh - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tấn Dương – Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 22 tháng 12 năm 2017, tại Uỷ ban nhân dân xã Tr B, huyện Trà Bồng, Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2017/ HSST ngày 02 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
1.HỒ VĂN H; tên gọi khác : Không.
Sinh ngày 06 tháng 03 năm 1981, tại xã Trà Bùi,huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
Trú tại: Thôn Gò, xã Trà Bùi, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi..
Nghề nghiệp: Nông.
Trình độ văn hóa: 12/12.
Dân tộc : Co.
Con ông Hồ Văn H; sinh năm 1948 và bà Hồ Thị L;sinh năm 1964; Vợ Hồ Thị H, sinh năm 1984; Con: 02 đứa, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn H
Ông Nguyễn Chí Khoa - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi.
- Nguyên đơn dân sự:
1/ Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi – Người đại diện theo pháp luật: ông Võ Chí Thanh – Giám đốc Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Xuân Hải – Phó Giám đốc BQL rừng phòng hộ huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
2/ Uỷ ban nhân dân xã Tr B, huyện Trà Bồng – Người đại diện theo pháp luật ông Hồ Văn Ba - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Tr B, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Hồ Văn Thanh – Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Tr B, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Hồ Thị H – Sinh năm 1984; Hộ khẩu thường trú:Tổ 6, thôn Gò, xã Trà
NHẬN THẤY :
Bị cáo Hồ Văn Hải bị VKSND huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi truy tố về hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng thời gian đầu tháng 7 năm 2016 bị cáo Hồ Văn Hải đến khu vực rừng suối Trút, lô 2, khoảnh 4, tiểu khu 103 và lô 4, khoảnh 10 tiểu khu 95, thuộc thôn Quế, xã Trà Bùi, huyện Trà Bồng có hành vi phá rừng trong nhiều ngày để lấy đất làm rẫy. Cụ thể, bị cáo Hồ Văn Hải sử dụng rựa phát, chặt hạ các loại dây leo và cây rừng, rồi dùng máy cưa xăng cầm tay cắt hạ toàn bộ số cây gỗ lớn rồi bỏ lại hiện trường.
Ngày 16/7/2016 Hạt kiểm lâm huyện Trà Bồng thực hiện nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ rừng trên địa bàn xã Trà Bùi phát hiện diện tích rừng tự nhiên lô 2, khoảnh 4, tiểu khu 103 và lô 4, khoảnh 10, tiểu khu 95 bị chặt phá trái pháp luật. Qua điều tra, xác minh Hạt kiểm lâm huyện Trà Bồng, xác định bị cáo Hồ Văn Hải sinh năm 1981 trú tại thôn Gò, xã Trà Bùi, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi là người thực hiện hành vi hủy hoại rừng nói trên.
- Tại kết luận giám định số 24/KLGĐ ngày 31/10/2016 của Tổ giám định Tư pháp Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:
Vị trí diện tích rừng bị xâm hại thuộc lô 4, khoảnh 10, tiểu khu 95 và lô 2, khoảnh 4, tiểu khu 103, xã Trà Bùi, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
- Diện tích 9.470 m2 (Bằng chữ: Chín nghìn, bốn trăm bảy mươi mét vuông)
+ Diện tích quy hoạch rừng sản xuất: 3.140 m2
+ Diện tích quy hoạch rừng phòng hộ 6.330 m2
- Trạng thái rừng: Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo.
- Mục đích quy hoạch cho lâm nghiệp.
- Vị trí lô 4, khoản 10, tiểu khu 95: Quy hoạch rừng sản xuất.
- Vị trí lô 2, khoản 4, tiểu khu 103: Quy hoạch rừng phòng hộ đầu nguồn.
- Trữ lượng rừng, sản lượng bị thiệt hại:
+ Tại tiểu khu 95:
Trữ lượng rừng bị thiệt hại là 19,415m3
Sản lượng gỗ bị thiệt hại 10,6782m3
+ Tại tiểu khu 103:
Trữ lượng rừng bị thiệt hại là 41,9739m3,
Sản lượng gỗ bị thiệt hại 20,0856m3.
Tại kết luận định giá tài sản số 14/KL-HDĐGTS ngày 08/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trà Bồng, giá trị được xác định là:
Rừng phòng hộ trữ lượng rừng là 58.763.460 đ, sản lượng gỗ là 32.319.840đ.
Rừng sản xuất, trữ lượng rừng là 27.181.000đ, sản lượng gỗ là 14.949.480đ.
Đối với hành vi hủy hoại 3.140 m2 diện tích rừng tự nhiên sản xuất của Hồ Văn Hải tại lô 4, khoảnh 10, tiểu khu 95 xã Trà Bùi, huyện Trà Bồng không đủ yếu tố cấu thành tội hủy hoại rừng quy định tại Điều 189 Bộ luật hình sự. Ngày 10/10/2017 Cơ quan điều tra Công an huyện Trà Bồng chuyển giao hồ sơ đến Hạt kiểm lâm huyện Trà Bồng đề nghị xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
Tại bản cáo trạng số 11/QĐ-VKS ngày 31/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng truy tố bị cáo Hồ Văn về tội “hủy hoại rừng” theo điểm b, khoản 3 Điều 189 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189; điểm b,p,s khoản 1, khoản 2 Điều 46; điều 60 BLHS năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 BLHS 2015. Xử phạt bị cáo Hồ Văn H từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
+ Về trách nhiệm dân sự: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Trà Bồng yêu cầu bị cáo Hồ Văn H trồng lại rừng trên diện tích 6.330 m2, bị cáo Hồ Văn H đã tự nguyện trồng lại 100 cây lim xanh trên diện tích 910 m2, diện tích còn lại là 5.420 m2 cần tuyên buộc bị cáo Hồ Văn H phải trồng lại rừng theo hồ sơ thiết kế trồng rừng phòng hộ đúng quy định của nhà nước.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS năm 1999; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự (BL TTHS).
- Tịch thu tiêu hủy, đối với 01 (một) cái rựa dài 58 cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 29,5 cm, cán rựa bằng gỗ tròn dài 28,5 cm.
Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Hoàn toàn nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Hồ Văn H. Trong quá trình ở giai đoạn điều tra truy tố và xét xử bị cáo Hồ Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, hộ nghèo, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có thành tích xuất sắc trong công tác. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b,p,s khoản 1, khoản 2, Điều 46, Điều 47, Điều 60 BLHS năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Hồ Văn H từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa, các bị cáo Hồ Văn Hải khai nhận: Trong thời gian nhiều ngày đầu tháng 7 năm 2016 Hải đến khu vực rừng suối Trút, lô 2, khoảnh 4, tiểu khu 103 và lô 4, khoảnh 10 tiểu khu 95, thuộc thôn Quế, xã Trà Bùi, huyện Trà Bồng có hành vi sử dụng rựa phát, chặt hạ các loại dây leo và cây rừng, rồi dùng máy cưa xăng cầm tay cắt hạ toàn bộ số cây gỗ lớn mục đích để lấy đất làm rẫy với diện tích 9.470m2, trong đó diện tích rừng phòng hộ tại tiểu khu 103 là 6.330m2.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Hồ Văn H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo tham gia công tác mặt trận thôn, nhưng bị cáo không ý thức được nghĩa vụ của mình trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Vì mục đích kinh tế muốn có đất làm rẫy, bị cáo đã có hành vi hủy hoại rừng có diện tích 6.330 m2 rừng phòng hộ. Bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý rừng của nhà nước, môi trường sinh thái, đối tượng mà bị cáo tác động trực tiếp là rừng phòng hộ. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng đã truy tố bị cáo theo điểm b khoản 3 Điều 189 BLHS năm 1999 là có căn cứ đúng người đúng tội. Thực hiện Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành BLHS số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều luật số 12/2017/QH14 nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội theo BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để quyết định trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại Điều 189 BLHS năm 1999 thì với hành vi hủy hoại 6.330 m2 rừng phòng hộ thuộc khoản 3 có mức hình phạt từ 7 (bảy) đến 15 (mười lăm) năm tù nhưng theo BLHS năm 2015 thì hành vi của bị cáo thuộc điểm C khoản 1 điều 243 khung hình phạt từ 1 (một) đến 5 (năm) năm tù. Đây là quy định có lợi cho người phạm tội trong BLHS năm 2015, thể hiện sự tương xứng giữa hành vi phạm tội, hậu quả và khung hình phạt đối với người phạm tội, cần áp dụng quy định này để xử phạt bị cáo.
Đối với tình tiết tăng nặng quy định tại điểm i khoản 1 điều 48 BLHS năm 1999 “xâm phạm tài sản của nhà nước” nhưng tại điều 52 BLHS năm 2015 đã xóa bỏ tình tiết tăng nặng này nên không áp dụng tình tiết này đối với bị cáo.
Mặc khác, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, có thành tích xuất sắc trong công tác, tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn (hộ nghèo), có nhân thân tốt; tại phiên tòa nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần xem đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,p,s khoản 1, khoản 2 Điều 46; áp dụng Điều 47; Điều 60 BLHS năm 1999 xử dưới khung hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo vẫn đạt mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đề nghị của vị kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Riêng đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về mức hình phạt là nhẹ không có tác dụng răn đe đối với người phạm tội.
+Về trách nhiệm dân sự: Buộc Hồ Văn Hải phải trồng lại là 5.420m2 theo hồ sơ thiết kế trồng rừng phòng hộ đúng quy định của nhà nước tại lô 2, khoảnh 4, tiểu khu 103 thuộc thôn Quế, xã Trà Bùi, huyện Trà Bồng .
+Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 cái rựa dài 58cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 29,5cm, cán rựa bằng gỗ tròn dài 28,5cm của bị cáo Hồ Văn Hải, không còn giá trị sử dụng.
+ Về án phí: Bị cáo Hồ Văn H thuộc hộ nghèo nên được miễn tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn Hải phạm tội “Hủy hoại rừng”
Áp dụng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189 BLHS năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015; điểm b,p,s khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 BLHS năm 1999.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn H 14 (Mười bốn) tháng tù, cho hưởng án treo,thời gian thử thách là 28 (Hai mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Hồ Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Tr B, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự , Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 buộc Hồ Văn Hải phải trồng lại 5.420m2 theo hồ sơ thiết kế trồng rừng phòng hộ đúng quy định của nhà nước tại lô 2, khoảnh 4, tiểu khu 103 thuộc thôn Quế, xã Trà Bùi, huyện Trà Bồng .
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS năm 1999; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy, đối với 01 (một) cái rựa dài 58 cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 29,5 cm, cán rựa bằng gỗ tròn dài 28,5 cm. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Bồng với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi ngày 14/12/2017).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 BLTTHS năm 2003 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hồ Văn H.
Án xử công khai bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận với thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, và 9 luật thi hành án dân sự, thời thiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Q.Ngãi; - Sở tư pháp - VKSND huyện Trà Bồng; - Cơ quan THA HS CA huyện Trà Bồng - Chi cục THADS huyện Trà Bồng; - UBND xã Tr B, huyện Trà Bồng. - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hải |