- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cá o Nguyễn Thị L phạm tội “Cố ý gây thương tí ch”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2017/HS-ST Ngày 20/11/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Thiên Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Há nh
Ông Nguyễ n Bỉ nh Thá i
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chinh-Thư ký TAND huyệ n Tiên Du
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia
phiên tòa: Ông Lê Quang Tuấ n - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2017/TLST-HS ngày 26/10/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2017/QĐXXST-HS ngày 09/11/2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1983
Trú tại: Thôn B, xã L, huyệ n T, tỉnh Bắ c Ninh
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12.
Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nữ ; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nguyễn Sỹ L3, SN 1945 – làm ruộng
Con bà Nguyễn Thị L4, SN 1945 – làm ruộng.
Gia đình bị cáo có 05 chị em ruột. Bị cáo là con út.
Có chồng Nguyễn Đức H1, sinh năm 1980 – thợ mộc
Con: có 02 con, lớn sinh 2008, nhỏ sinh 2012.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị bắt tạm giam từ ngày 28/7/2017 đến ngày 25/8/2017 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “ Bảo lĩnh”. Hiệ n đang tạ i ngoạ i – Có mặt
* Ngườ i bị hạ i:
1/ Chị Lê Thị H, sinh năm 1989 (có mặ t)
Trú tại: Thôn B, xã L, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh.
*Ngườ i có quyề n lợ i và nghĩ a vụ liên quan
1/ Anh Nguyễ n Đứ c P, sinh năm 1997 (có mặ t)
2/ Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1987 (có mặ t)
3/ Anh Nguyễn Đức H1, sinh năm 1980 (có mặ t)
4/ Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1963(vắng mặ t)
Cùng trú tại: Thôn B, xã L, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh.
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/6/2017 tại nhà ông Nguyễn Văn L 1 ở thôn B, xã L, huyệ n T, Nguyễ n Thị L cùng Nguyễ n Đứ c C, Nguyễ n Đứ c P có hành vi đá nh chị Lê Thị H. Cụ thể L có hành vi chửi bớ i, dùng tay phải tát 01 phát vào mặt chị H. Khi chị H vung tay để gạt tay L ra thì C xông vào dùng tay phải đấm 01 phát vào mặt bên trái của chị H và giữ để L tiế p tụ c dù ng tay tá t và o mặ t chị H. L còn dùng tay phải túm tóc chị H, dùng chân phải huých mạnh đầu gối vào mặt chị H rồi kéo chị H nằ m ngã ngử a . C dùng chân phải đá 01 phát vào ngang người chị H. Ngoài ra P đang ở ngoà i cũng vào trong nhà dùng tay phải tát một phát vào vùng thái dương của chị H. Được mọi người can ngăn, cả bọn thôi không đánh chị H. Lát sau L quay lạ i lấ y chiế c điế u cà y nhà ông L1 vụt trúng vào vùng đầu và tay chị H. Gia đì nh ông L1 tiế p tụ c can ngăn và trì nh bá o lự c lượ ng Công an . Chị H được đưa đến Bệnh Viện đa khoa Th, Bệ nh việ n V điều trị đến ngày 16/6/2017 thì ra viện. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 88/TgT ngày 04/7/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Bắc Ninh kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây lên của chị Lê Thị H tại thời điểm giám định là 23% .
Cáo trạng số 112/CTr - VKS ngày 26/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Cố ý gây thương tí ch” quy đị nh tạ i khoản 2 Điều 104 Bộ luậ t hì nh sự .
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo L khai nhận: Do nghi ngờ chị H có quan hệ tình cảm với chồng là Nguyễn Đức H1 nên tố i ngà y 08/6/2017, bị cáo cùng Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị M (Đ), Nguyễn Đức C, Nguyễn Đức P đến tìm gặ p chị H để giải quyết việc nghi ngờ chị H có quan hệ bất chí nh vớ i chồ ng mì nh. Khi phát hiện chị H đang ở nhà ông Nguyễn Văn L1, bị cáo liề n chử i bớ i và dùng tay phải tát vào má trái của chị H. Được C giữ chị H, bị cáo dùng tay phải tú m tó c , kéo đầu chị H xuống dùng chân phải lên gối, huých mạnh vào vùng mặt chị H 01 phát. Bị cáo tiếp tục túm tóc chị H, kéo chị ngã ngửa ra nền phòng khách nhà ông L1. Sau khi đượ c mọi người can ngăn, bị cáo lẻn vào nhà ông L1 nhìn thấy điếu cày liền cầm lên vụt hai phát vào ngườ i chị H trong đó có 01 phát trúng tay và 01 phát trúng đầu.
Ngườ i bị hạ i chị H có lờ i khai tạ i phiên tò a thể hiệ n: Tố i ngà y 08/6/2017 chị H bị L, C, P dùng tay, chân tá t và o mặ t , túm tóc lên gối kéo ngã ngửa xuống nền nhà. Sau đó bị cá o L còn dùng điếu cày đánh vào đầu chị . Đế n nay gia đì nh bị cá o đã bồ i thườ ng số tiền là 150 triệu đồng nên chị không có yêu cầ u gì về trá ch nhiệ m dân sự . Ngày 03/8/2017 chị tự nguyện làm đơn xin bã i nạ i , không truy tố trá ch nhiệ m hì nh sự đố i vớ i bị cáo L, các đối tượng C, P.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh C, anh P trình bày tại cơ quan điề u tra: Ngày 08/6/2017 có đi cùng bị cáo L tìm đánh chị H. Các anh chỉ dùng chân, tay không đá nh chị L khi có ngườ i can ngăn thì dừ ng lạ i.
Ngườ i có quyề n lợ i và nghĩ a vụ liên quan ông L1 trình bày tại cơ quan điều tra: Ngày 08/6/2017 bị cáo có sử dụng chiếc điếu cày của nhà ông để đánh chị H. Do giá trị thấ p nên ông L1 không xin lạ i.
Tại phiên tòa hôm nay anh H1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Gia đì nh anh đã tự nguyệ n bồ i thườ ng cho chị H 150.000.000 đồ ng.
Đại diện Viện kiểm sát huyện Tiên Du thực hành quyề n công tố tại phiên tòa, trong phầ n luận tội , sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự củ a bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố bị cá o Nguyễn Thị L phạm tội “Cố ý gây thương tí ch”.
2. Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điề u 46; Điề u 60 Bộ luậ t hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14: Xử phạt bị cáo Nguyễ n Thị L từ 24 tháng đến 28 tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo , thờ i gian thử thá ch từ 48 tháng đến 56 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Về trá ch nhiệ m dân sự : Không đề cậ p giả i quyế t.
4. Vậ t chứ ng: Áp dụng cá c Điề u 41 Bộ luậ t hì nh sự , Điề u 76 Bộ luậ t tố tụ ng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiế c điế u cà y.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội , không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hì nh phạ t.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 08/6/2017 tại thôn Bái Uyên , xã Liên Bão , huyệ n Tiên Du , bị cáo L cùng các đối tượng C, P có hành vi dùng chân tay tát, đấ m, đá và o ngườ i chị Lê Thị H. Ngoài ra bị cáo L có hành vi cầ m điế u cà y làm bằng ống tre khô , bề ngoà i bọ c kim loạ i mà u trắ ng đậ p và o tay và đầ u chị H đang nằ m bấ t tỉ nh. Kế t luận giám định pháp y về thương tích số 88/TgT ngày 04/7/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Bắc Ninh kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây lên cho chị H tại thời điểm giám định là 23% . Như vậ y hà nh vi củ a bị cá o đủ yế u tố cấ u thà nh tộ i “Cố ý gây thương tí ch” , tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự.
Sau khi đượ c can ngăn, các đối tượng C, P dừ ng lạ i thì bị cá o L tiế p tụ c quay lại sử dụng điếu cày làm bằng ống tre khô , bề mặ t ngoà i đượ c bọ c kim loạ i mà u trắ ng đá nh và o tay , đầ u chị H. Căn cứ Nghị quyế t 01/2006/NQ-HĐTP ngà y 12/5/2006 và Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướ ng dẫ n á p dụ ng mộ t số quy đị nh củ a Bộ luậ t hì nh sự , hành vi của bị cáo thực hiện thuộc trường hợp “Dù ng hung khí nguy hiể m” quy đị nh tạ i điể m a khoả n 1 Điề u 104 Bộ luậ t hì nh sự . Vì vậy tỉ lệ tổn thương cơ thể của người bị hại là 23% nhưng có tì nh tiế t đị nh khung hì nh phạ t quy đị nh tạ i điể m a khoả n 1 Điề u 104 nên bị cá o bị truy tố , xét xử theo khoản 2 Điề u 104 Bộ luậ t hì nh sự là đú ng ngườ i, đú ng tộ i, đú ng phá p luậ t.
Tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) quy định: “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.”. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội “Cố ý gây thương tí ch hoặ c gây tổ n hạ i sứ c khỏ e cho ngườ i khác” như sau:
“…2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường H quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm”. Trong vụ á n nà y bị cá o L phạm tội được quy định tại điểm đ khoản 2 điề u 134 BLHS năm 2015.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên khung hình phạt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác quy định tại Bộ luật hình sự 2015 nhẹ hơn, có lợi cho người phạm tội so với khung hình phạt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác quy định tại Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009). Vì vậy cần áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khóa 14 để xử lý đối với bị cáo là phù hợp quy định pháp luật.
Trong vụ á n bị cá o và cá c đố i tượ ng P, C khi đi đá nh chị H không có sự bà n bạc, phân công cụ thể nên thuộ c trườ ng H đồ ng phạ m giả n đơn. Bị cáo L có vai trò chính, xuấ t phá t từ nghi ngờ ghen tuông nên rủ các đối tượng đi đánh chị H. Bị cáo rấ t tí ch cự c trong việ c thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i , khi đượ c mọ i ngườ i can ngăn không dừ ng lạ i mà tiếp tục chửi bới, dùng điếu cày đánh chị H. Các đối tượng C, P khi đượ c bị cáo rủ đi đánh chị H không can ngăn mà đồ ng ý đi cù ng. Đối tượng C ngoài hành vi dùng tay, chân đá nh chị H còn giữ chị H để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sứ c khỏ e của công dân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra còn gây mất trật tự trị an, hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm . Do vậy cần á p dụ ng hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã thự c hiệ n mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân bị cá o thì thấ y : Bị cáo là người có nhân thân tốt , chưa có tiề n á n, tiề n sự . Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩ n khai bá o, ăn năn hố i cả i về hà nh vi phạ m tộ i củ a bả n thân . Gia đì nh bị cá o đã bồ i thườ ng cho ngườ i bị hạ i. Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoả n 1 Điề u 46 Bộ luậ t hình sự. Chị H có đơn xin bãi nại không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo phạm tội theo khoản
2 Điề u 104 Bộ luậ t hì nh sự , không thuộ c trườ ng hợp khở i tố vụ á n theo yêu cầ u ngườ i bị hạ i nhưng cầ n á p dụ ng khoả n 2 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự cho bị cá o là có căn cứ . Mặt khác, bị cáo có bố đẻ tham gia kháng chiến chống Mỹ và là thương binh do vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 46 BLHS. Bị cáo không có tì nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự .
Từ những phân tích đánh giá nêu trên, Hộ i đồ ng xé t xử thấ y bị cáo có nhân thân tố t, đượ c hưở ng nhiề u tì nh tiế t giả m nhẹ , không có tì nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự , có nơi cư trú rõ rà ng nên không cầ n th iế t cá ch ly bị cá o ra khỏ i xã hộ i mà cho bị cá o hưở ng á n treo cũ ng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Về trá ch nhiệ m dân sự : Ngườ i bị hạ i nhậ n bồ i thườ ng 150 triệ u đồ ng đến nay không yêu cầ u gì thêm nên Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t giả i quyế t . Quá trình mọi người can ngăn là m bậ t gông mộ t cánh cổng nhà ông L1. Gia đì nh ông L1 không có yêu cầu nghị gì nên Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t giải quyết.
Về xử lý vậ t chứ ng: Quá trình phạm tội bị cáo L dùng chiếc điếu cày của ông L1 làm hung khí đá nh chị H, do giá trị thấ p ông L1 không xin lạ i nên Hộ i đồ ng xé t xử tị ch thu tiêu hủ y. Đối với chiếc xe má y Honda Dream của bị cá o cù ng đố i tượ ng C đi đến nhà chị H tối 08/6/2017, bị cáo đã bán cho một người không quen biết nên không thu hồ i đượ c.
Liên quan trong vụ án có đối tượng Nguyễn Đức C, Nguyễn Đức P tham gia đánh chị H nhưng chỉ dù ng chân, tay. Người bị hại có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hì nh sự nên Công an huyệ n Tiên Du chỉ xử phạ t hà nh chí nh đố i vớ i P, C là phù hợp. Đối với Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị M (Đ) chỉ đi cùng bị cáo nhưng không tham gia đánh chị H nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cá o Nguyễn Thị L phạm tội “Cố ý gây thương tí ch”.
2. Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điề u 46; Điề u 41, Điều 60 BLHS, Điều 76, Điề u 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khóa 14; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễ n Thị L 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thờ i gian thử thá ch 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã L, huyệ n T , tỉnh Bắc Ninh giám sát , giáo dục trong thời gian thử thách trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu tiếp tục bồi thường của người bị hại đối với bị cáo.
3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếu điếu cày dài 57 cm, đường kính 4,3 cm là m bằ ng ố ng tre khô , bề mặ t ngoà i đượ c bọc kim loại màu trắng, cách chân điếu 12 cm về phí a thân điế u có gắ n lỗ điế u , cách đầu hút 13 cm về phí a thân điế u có gắn giá đỡ bằng kim loại, điế u đã qua sử dụ ng.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, ngườ i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngườ i có quyề n lợ i và nghĩ a vụ liên quan vắ ng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhậ n tố ng đạ t á n.
| Nơi nhận; - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Tiên Du; - Công an huyện Tiên Du; - Chi cục THADS huyện Tiên Du; - Những NTGTT; - Lưu HS, VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Thạch Thiên Hà |