vanban.org

Bản án 07 — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng - Khoa, Thảo"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
THAØNH PHOÁ B
TÆNH ÑOÀNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/DS - ST Ngày: 16 - 02 - 2022 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ B

- Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm:

Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Baø Traàn Thò Kim Dung.

Caùc Hoäi thaåm nhaân daân: Ông Trần Văn Chánh.

Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký Tòa án: Bà Trần Thị Minh Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Loan – Kiểm sát viên.

Hoâm nay, ngaøy 16 thaùng 02 naêm 2022 taïi truï sôû Toøa aùn nhaân daân thaønh phoá Bieân Hoøa xeùt xöû sô thaåm coâng khai vuï aùn Dân sự thuï lyù soá: 412/2021/TLST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2021 veà vieäc “Tranh chaáp hôïp ñoàng tín dụng”. Theo Quyeát ñònh ñöa vuï aùn ra xeùt xöû soá: 01/2022/QÑXXST - DS ngaøy 06/01/2022 và Quyeát ñònh hoãn phiên tòa soá: 39/2022/QÑST - DS ngaøy 24/01/2022 giöõa caùc ñöông söï:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Địa chỉ: 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Quốc Đ. (Văn bản ủy quyền số: 2513/2020/UQ-VPB ngày 19/11/2020).

Địa chỉ: Tầng 1, số 96, đường Cao Thắng, phường 4, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1988. (Văn bản ủy quyền số: 2513/2020/UQ-VPB ngày 19/11/2020).

Địa chỉ: K19, đường Võ Thị Sáu, khu phố 7, phường Thống Nhất, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành Kh, sinh năm 1984.

Địa chỉ: 163B/5, khu phố 9 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bà Lương Nguyễn Thu Th, sinh năm 1985.

Địa chỉ: 163B/5, khu phố 9 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(OÂng H có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Kh và bà Th vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 19/11/2020, các bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V do ông Nguyễn Huy H đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 17/10/2017, ông Nguyễn Thành Kh, bà Lương Nguyễn Thu Th và Ngân hàng thương mại cổ phần V ký Hợp đồng cho vay số LN1709290256587/BTH/HĐTD, vay số tiền: 637.000.000đồng, thời hạn vay: 83 tháng từ ngày 17/10/2017 đến ngày l7/09/2024, mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua ô tô Ford Focus. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 10,9%/năm, lãi suất quáhạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Ngày 29/9/2017, bà Lương Nguyễn Thu Th ký kết giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử với Ngân hàng thương mại cổ phần V, vay số tiền: 79.000.000đồng, thời hạn vay: 60 tháng từ ngày 17/10/2017 đến ngày l7/09/2022, mục đích sử dụng tiền vay: Mua sắm dụng cụ gia đình. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 20%/năm, lãi suất quáhạn bằng 150% lãi suất tronghạn.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nói trên là 01 xe ô tô, nhãn hiệu: Ford, số khung: FBAMHBR59082, số máy: M9DCHB59082, biển số 60A-421.53, đứng tên bà Lương Nguyễn Thu Th theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 024370 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 14/10/2017.

Hợp đồng thế chấp số LN1709290256587/BTH/HĐTCSP ngày 17/10/2017 đã được công chứng và đã đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật.

Trong thời gian thực hiện hợp đồng, kể từ ngày 17/01/2019 ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo cam kết nên các khoản vay trên chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày 15/02/2022 ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th đã thanh toán cho Ngân hàng là: 184.456.254đồng. Trong đó: tổng nợ gốc là 88.048.521đồng, tổng nợ lãi đã thanh toán là 96.407.733đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần V yêu cầu buộc ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th thanh toán toàn bộ số tiền: 1.076.912.499 đồng; trong đó: nợ gốc: 627.951.479đồng, nợ lãi tính đến ngày 15/02/2022: 448.961.020đồng.

Kể từ ngày 16/02/2022, ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th còn phải chịu lãi quá hạn theo thỏa thuận của các hợp đồng tín dụng trên cho đến khi trả hết số nợ vay cho Ngân hàng.

Để đảm bảo thanh toán nợ vay, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có chức năng thi hành án Dân sự có thẩm quyền tiền hành kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô, nhãn hiệu Ford, số khung: FBAMHBR59082, số máy: M9DCHB59082, biển kiểm soát 60A-421.53, đứng tên bà Lương Nguyễn Thu Th theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 024370 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 14/10/2017 để thanh toán nợ vay cho Ngân hàng.

Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán nợ vay, ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th vẫn có nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ nợ vay với Ngân hàng.

- Bị đơn ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án không nộp bản tự khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Ý kiến Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng qui định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn tham gia phiên tòa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tham gia phiên tòa, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự

Về đường lối giải quyết vụ án:

Tại Hợp đồng cho vay thể hiện địa chỉ thường trú của ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th là 163B/5, khu phố 9, phường Tân Biên, TP. B, tỉnh Đồng Nai.

Tuy nhiên, tại biên bản xác minh ngày 26/10/2021 (BL102) Công an khu vực khu phố 9, phường Tân Biên, TP. B cho biết ông Nguyễn Thành Kh, bà Lương Nguyễn Thu Th có đăng ký hộ khẩu thường trú tại 163B/5, khu phố 9, phường Tân Biên, TP. B, tỉnh Đồng Nai nhưng đã bán nhà cách đây nhiều năm. Hiện tại không còn sinh sống tại địa phương từ đầu năm 2018 đến nay.

Tại điểm a, Khoản 2, điều 6 Nghị quyết 04 ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Như vậy trong trường hợp này bị đơn được xem là cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định điều 170,180 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án là từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, do đó căn cứ vào lời khai và các chứng cứ nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án.

Căn cứ vào lời khai và các chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện:

Ngày 29/09/2017, bà Lương Nguyễn Thu Th ký kết Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử với Ngân hàn Thương mại Cổ phần V, vay số tiền: 79.000.000 đồng, thời hạn vay: 60 tháng từ ngày 17/10/2017 đến ngày 17/10/2022, mục đích sử dụng tiền vay: Mua sắm dụng cụ gia đình. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 20%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150%.

Ngày 17/10/2017, ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th ký kết Hợp đồng cho vay số LN1709290256587/BTH HDTD với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, vay số tiền: 637.000.000 đồng, thời hạn vay: 83 tháng từ 17/10/2017 đến 17/09/2024, mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua ô tô FORD FOCUS. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 10,9%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay 637.000.000 đồng là 01 chiếc xe ô tô, nhãn hiệu: Rord, số khung: FBAMHBR59082, số máy: M9DCHB59082; biển kiểm soát: 60A-421.53, đứng tên bà Lương Nguyễn Thu Th theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 024370 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 14/10/2017. Hợp đồng thế chấp số LN1709290256587/BTH/HĐTCSP ký ngày 17/10/2017 đã được công chứng và đã đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, trong thời gian thực hiện hợp đồng, kể từ ngày 17/01/2019, ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo cam kết nên các khoản vay trên chuyển nợ quá hạn.

Hiện dư nợ của ông Kh và bà Th đang nợ tại Ngân hàng tạm tính đến ngày 15/02/2022 là 1.076.912.499 đồng; trong đó: Nợ gốc: 627.951.479đồng, nợ lãi tính đến ngày 15/02/2022: 448.961.020đồng. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu khách hàng thanh toán toàn bộ nợ vay nhưng khách hàng không thực hiện.

Do bị đơn không có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án do đó xem như từ bỏ quyền lợi của mình. Do đó căn cứ vào lời khai và các chứng cứ có trong hồ sơ có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th trả một lần toàn bộ số tiền nợ gốc: 627.951.479 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Buộc ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th trả một lần toàn bộ số tiền nợ gốc: 627.951.479 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử.

Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Veà thuû tuïc toá tuïng:

Ngày 15/02/2022 ông Nguyễn Huy H đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V có đơn xin xét xử vắng mặt nên xét xử vắng mặt ông Nguyễn Huy H theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Toøa aùn nhaân daân thành phố B ñaõ tiến hành thủ tục niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thoâng baùo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoøa giaûi, thoâng baùo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th đến Tòa án nhân dân thành phố B làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoøa giaûi, tham gia phiên tòa theo quy ñònh phaùp luaät nhöng ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th vaãn vaéng maët nên căn cứ theo khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th.

Về thủ tục ủy quyền: Đại diện theo pháp luật của Ngân hàng thương mại cổ phần V có văn bản ủy quyền cho oâng Nguyễn Huy H là người đại diện cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tham gia giải quyết vụ án theo văn bản ủy quyền số: 2513/2020/UQ-VPB ngày 19/11/2020 là phù hợp với quy định của pháp luật, nên chấp nhận.

Về nội dung vụ án:

Ngày 17/10/2017, Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Đồng Nai và ông Nguyễn Thành Kh, bà Lương Nguyễn Thu Th ký hợp đồng cho vay số LN1709290256587/BTH/HĐTD. Nội dung hợp đồng, bên cho vay: Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Đồng Nai; bên vay: ông Nguyễn Thành Kh, CMND số: xxxxxxxxx. Nơi cấp: Công an Đồng Nai và bà Lương Nguyễn Thu Th, CMND số: xxxxxxxxx. Nơi cấp: Công an Đồng Nai, vay số tiền 637.000.000 đồng; thời hạn vay 83 tháng, từ ngày 17/10/2017 đến ngày 17/9/2024. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 10,9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Mục đích vay thanh toán tiền mua xe ô tô Ford Focus 1.5 Titanium AT. Giao dịch bảo đảm cho khoản vay là thế chấp xe ô tô, nhãn hiệu: Ford, số khung: FBAMHBR59082, số máy: M9DCHB59082, biển số 60A-421.53, đứng tên bà Lương Nguyễn Thu Th theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 024370 do Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Đồng Nai cấp ngày 14/10/2017. Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1709290256587/BTH/HĐTCSP ngày 17/10/2017 đã được công chứng và đăng ký theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/9/2017, bà Lương Nguyễn Thu Th ký kết giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử với Ngân hàng thương mại cổ phần V, vay số tiền: 79.000.000đồng, thời hạn vay: 60 tháng từ ngày 17/10/2017 đến ngày l7/09/2022, mục đích sử dụng tiền vay: Mua sắm dụng cụ gia đình. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 20%/năm, lãi suất quáhạn bằng 150% lãi suất tronghạn.

Ngân hàng thương mại cổ phần V yêu cầu buộc ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th thanh toán toàn bộ số tiền: 1.076.912.499 đồng; trong đó: Nợ gốc: 627.951.479đồng, nợ lãi tính đến ngày 15/02/2022: 448.961.020đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần V đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ như hợp đồng cho vay số: LN1709290256587/BTH/HĐTD ngày 17/10/2017, giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 29/9/2017, giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 02/4/2018, khế ước nhận nợ LN1709290256587/BTH/HĐTD ngày 17/10/2017, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 024370, đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên ngày 17/10/2017, hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1709290256587/BTH/HĐTCSP ngày 17/10/2017, giấy chứng nhận đăng ký biện pháp giao dịch bảo đảm,…để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Xét thấy, các tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng thương mại cổ phần V cung cấp là hợp lệ và thể hiện ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th đã vi phạm hợp đồng cho vay nên yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần V là có căn cứ chấp nhận. Do đó, buộc ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 1.076.912.499 đồng (Một tỷ không trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm mười hai nghìn bốn trăm chín mươi chín đồng); (Trong đó: Nợ gốc: 627.951.479đồng (Sáu trăm hai mươi bảy triệu chín trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm bảy mươi chín đồng), nợ lãi tính đến ngày 15/02/2022: 448.961.020đồng (Bốn trăm bốn mươi tám triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn không trăm hai mươi đồng)).

Tại biên bản xác minh ngày 26/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B, Cảnh sát khu vực khu phố 9, phường Tân Biên, thành phố B cung cấp: ông Nguyễn Thành Kh, sinh năm 1984 và bà Lương Nguyễn Thu Th, sinh năm 1985, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ 163B/5, khu phố 9, phường Tân Biên, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhưng đã bỏ nhà cách đây nhiều năm. Hiện tại không còn sinh sống tại địa phương từ đầu năm 2018 đến nay.

Theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

Trong trường hợp này bị đơn Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th được xem là cố tình giấu địa chỉ. Quá trình giải quyết vụ án, Toøa aùn nhaân daân thành phố B ñaõ tiến hành thủ tục niêm yết các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng thương mại cổ phần V cung cấp như hợp đồng cho vay số: LN1709290256587/BTH/HĐTD ngày 17/10/2017, giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 29/9/2017, giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 02/4/2018, khế ước nhận nợ LN1709290256587/BTH/HĐTD ngày 17/10/2017, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 024370, đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên ngày 17/10/2017, hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1709290256587/BTH/HĐTCSP ngày 17/10/2017, giấy chứng nhận đăng ký biện pháp giao dịch bảo đảm,… cho bị đơn ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th. Việc bị đơn ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, do đó căn cứ vào lời khai và các chứng cứ Ngân hàng thương mại cổ phần V cung cấp để giải quyết vụ án.

Töø nhöõng nhận định treân, yeâu caàu khôûi kieän Ngân hàng thương mại cổ phần V là có cơ sở chấp nhận. Buộc ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th, coù traùch nhieäm thanh toaùn cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 1.076.912.499 đồng (Một tỷ không trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm mười hai nghìn bốn trăm chín mươi chín đồng); (Trong đó: Nợ gốc: 627.951.479đồng (Sáu trăm hai mươi bảy triệu chín trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm bảy mươi chín đồng), nợ lãi tính đến ngày 15/02/2022: 448.961.020đồng (Bốn trăm bốn mươi tám triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn không trăm hai mươi đồng)).

Tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản nợ nói trên là: 01 xe ô tô con nhãn hiệu FORD, số loại FOCUS, số khung: FBAMHBR59082, số máy: M9DCHB59082, biển số 60A-421.53 laø taøi saûn của ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th theo giaáy chứng nhận ñaêng kyù xe oâ toâ soá 024370 ñöôïc Phoøng Caûnh saùt giao thoâng Coâng an tỉnh Đồng Nai caáp ngaøy 14/10/2017. (Theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1709290256587/BTH/HĐTCSP ngày 17/10/2017 có đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật nên được đảm bảo thi hành án nếu ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th không thanh toán nợ).

Về án phí: Ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th phải chịu 44.307.374 đồng (Bốn mươi tư triệu ba trăm lẻ bảy nghìn ba trăm bảy mươi tư đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V 19.376.000đồng (Mười chín triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001287 ngày 11/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Xét đề nghị của Đại diện Vieän kieåm saùt nhaân daân thaønh phoá Bieân Hoøa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì nhöõng leõ treân;

QUYEÁT ÑÒNH

Caên cöù Ñieàu 26, 35, Ñieàu 203, Ñieàu 220, Ñieàu 227, Ñieàu 228, Ñieàu 233, Ñieàu 235, Ñieàu 266, Ñieàu 271 và Ñieàu 273 cuûa Boä luaät toá tuïng daân söï naêm 2015.

AÙp duïng caùc Điều 357, 463, 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghò quyeát số: 326/2016/UBTVQH14 ngaøy 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

TUYÊN XỬ:

Chấp nhận yeâu caàu khôûi kieän cuûa Ngân hàng thương mại cổ phần V veà vieäc “Tranh chaáp hôïp ñoàng tín dụng” vôùi ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th.

Buộc ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th có trách nhiệm thanh toaùn cho Ngân hàng thương mại cổ phần V soá 1.076.912.499 đồng (Một tỷ không trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm mười hai nghìn bốn trăm chín mươi chín đồng); (Trong đó: Nợ gốc: 627.951.479đồng (Sáu trăm hai mươi bảy triệu chín trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm bảy mươi chín đồng), nợ lãi tính đến ngày 15/02/2022: 448.961.020đồng (Bốn trăm bốn mươi tám triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn không trăm hai mươi đồng)).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản nợ nói trên là: 01 xe ô tô con nhãn hiệu FORD, số loại FOCUS, số khung: FBAMHBR59082, số máy: M9DCHB59082, biển số 60A-421.53 laø taøi saûn của ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th theo giaáy chứng nhận ñaêng kyù xe oâ toâ soá 024370 ñöôïc Phoøng Caûnh saùt giao thoâng Coâng an tỉnh Đồng Nai caáp ngaøy 14/10/2017. (Theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1709290256587/BTH/HĐTCSP ngày 17/10/2017 có đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật nên được đảm bảo thi hành án nếu ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th không thanh toán nợ).

Về án phí: Ông Nguyễn Thành Kh và bà Lương Nguyễn Thu Th phải chịu 44.307.374 đồng (Bốn mươi tư triệu ba trăm lẻ bảy nghìn ba trăm bảy mươi tư đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V 19.376.000đồng (Mười chín triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001287 ngày 11/5/2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Ngân hàng thương mại cổ phần V và ông Nguyễn Thành Kh, bà Lương Nguyễn Thu Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ