vanban.org

Bản án 07

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Huỳn Tấn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1/ Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự . Xử: Phạt bị cáo Huỳnh Tấn T 01(một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ ngày 21- 11 -2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳn Tấn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 07 /2020/HSST
Ngày: 10/3/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO,TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Cao Thị Loan.

+ Ông Nguyễn Văn Trạng

– Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nhật Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Ngân Hà – kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

1/ Bị cáo:

- Huỳnh Tấn T, sinh ngày 26-9-1990; tại Tiền Giang; Giới tính : Nam.

- Tên gọi khác: Không.

- Nơi cư trú: Số 6/4, đường N, phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Chỗ ở hiện nay: 10/10, đường P, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

- Nghề nghiệp: Không.

- Trình độ học vấn: 06/12.

- Cha: Huỳnh Văn L, sinh năm 1972.

- Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1966.

- Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

- Bị cáo sống như vợ chồng với chị Trần Thị Mỹ T1 ( không đăng ký kết hôn).

- Bị cáo chưa có vợ con.

Nhân thân:

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: Không.

+ Ngày 08-6-2010, T bị Tòa án nhân dân thành phố M xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 56/HSST ngày 08-6-2010). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30-8- 2011.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21-11-2019, tạm giam ngày 30-11-2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Người làm chứng:

2.1/ Trần Thị Mỹ T1, sinh năm: 1997 (vắng mặt).

Địa chỉ: 9/11, đường P, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21-11-2019 tại nhà số 10/10 đường P, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố M phối hợp với Công an phường B, thành phố M kiểm tra phát hiện 01 gói nylon màu trắng có vạch xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng để trên kệ bắng nhựa dưới bàn gỗ để ti vi tại phòng riêng của Huỳnh Tấn T nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

- 01 bịch nylon màu trắng bên trên có vạch xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng được cho vào phong bì có các chữ ký ghi họ tên: Huỳnh Tấn T, Trần Thị Mỹ T1 và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN PHƯỜNG B-CÔNG AN THÀNH PHỐ M-TỈNH TIỀN GIANG..

- 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu đỏ bên trên nắp chai có gắn 01 ống thủy tinh màu trắng được uốn cong và 01 ống hút nhựa màu trắng, xanh.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 201/KLGĐ-PC09 ngày 22-11-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon màu trắng được hàn kín có một vạch màu xanh để trong bì thư màu trắng được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Huỳnh Tấn T, Trần Thị Mỹ T1 và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN PHƯỜNG B – CÔNG AN THÀNH PHỐ M- TỈNH TIỀN GAING; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9572 gam loại Methamphetamine.

Mẫu ma túy còn lại sau giám định và vật chứng có liên quan, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã chuyển đến Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố M chờ xử lý.

Bị cáo Huỳnh Tấn T khai: T là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 9 giờ ngày 21-11-2019 T mua 01 bịch ma túy giá 500.000 đồng của người thanh niên (không rõ họ, tên, địa chỉ) trên đường H, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang với mục đích sử dụng cho bản thân. Sau đó, T đem về nhà cất giữ trên kệ nhựa dưới bàn gỗ để ti vi trong phòng ngủ của mình. Đền khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T bị Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tang vật.

Đối với người bán ma túy cho T, do T không xác định được họ, tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa triệu tập ghi lời khai được, hiện tiếp tục điều tra làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với chị Trần Thị Mỹ T1 có mặt tại phòng ngủ của T vào thời điểm kiểm tra nhưng không biết việc T cất giữ ma túy nên Cơ quan điều tra không khởi tố, xử lý là có căn cứ.

Trong quá trình điều tra, T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ nên được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS- HS ngày 14-02-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M đã truy tố Huỳnh Tấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M nhận định nội dung vụ án và đưa ra các căn cứ buộc tội và tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T từ 12-18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .

Tịch thu tiêu hủy

- 01 (một) Bì thư được niên phong có ký hiệu vụ số 201 ngày 22- 11 - 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký in họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thanh T, trợ lý giám định Huỳnh Thị Diệu H, bên nhận Phan Vũ L và hình dấu tròn màu đỏ in chữ PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG.

- 01 ( một) chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn một ống thủy tinh được uốn cong màu trắng và một ống hút bằng nhựa màu trắng, xanh.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Tấn T thừa nhận: T là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 9 giờ ngày 21-11-2019 T mua 01 bịch ma túy giá 500.000 đồng của người thanh niên (không rõ họ, tên, địa chỉ) trên đường H, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang với mục đích sử dụng cho bản thân. Sau đó, T đem về cất giữ trên kệ nhựa dưới bàn gỗ để ti vi trong phòng ngủ của mình. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T bị Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ tang vật.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[4] Căn cứ Bản kết luận giám định số 201 ngày 22- 11 -2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon màu trắng được hàn kín có một vạch màu xanh để trong 01 bì thư màu trắng được niêm phong có đủ các chữ ký ghi họ, tên Huỳn Tấn T; Trần Thị Mỹ T1 và hình dấu tròn có nội dung CÔNG AN PHƯỜNG B- CÔNG AN THÀNH PHỐ M, TỈNH TIỀN GIANG gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9572 gam loại Methamphetamine.

Mẫu ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng, tài sản có liên quan, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã chuyển đến Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố M

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Từ những chứng cứ trên đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Huỳnh Tấn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó cáo trạng số 18/CT-VKS-HS ngày 14-02-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M đã truy tố bị cáo Huỳnh Tấn T về tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy” là có cơ sở đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Đối với người tên bán ma túy cho T, do T không xác định được họ, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không triệu tập làm việc được, hiện đang tiếp tục điều tra làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với chị Trần Thị Mỹ T1 khi kiểm tra tại phòng ngủ của bị cáo thì chị T1 có mặt nhưng chị T1 khai không biết bị cáo cất giữ ma túy trong phòng ngủ nên cơ quan điều tra không khởi tố chị T là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không đặc ra giải quyết.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện được Nhà nước quản lý chặt chẽ, nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ hoặc sử dụng trái phép chất ma túy. Bởi vì ma túy được xem là các căn bệnh gây nguy hại đến sức khỏe con người, xâm hại đến trật tự công cộng và cũng là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo biết rõ những tác hại trực tiếp do ma túy gây ra đối với con người cũng như những tác hại gián tiếp cho xã hội nhưng bị cáo vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân thể hiện việc xem thường pháp luật của bị cáo, cần xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự .

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy:

- .01 (một) bì thư được niên phong có ký hiệu vụ số 201 ngày 22 - 11 - 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký in họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thanh T, trợ lý giám định Huỳnh Thị Diệu H, bên nhận Phan Vũ L và hình dấu tròn màu đỏ in chữ PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG.

- 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu đỏ, trên nắp chai có gắn một ống thủy tinh được uốn cong màu trắng và một ống hút nhựa màu trắng xanh.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đưa các chứng cứ buộc tội, các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, xử lý vật chứng. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình söï vaø điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH khóa 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng aùn phí, leä phí Toøa aùn, bị cáo phaûi chòu aùn phí hình söï sô thaåm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳn Tấn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1/ Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự .

Xử: Phạt bị cáo Huỳnh Tấn T 01(một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ ngày 21- 11 -2019.

2/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy gồm:

- .01 (một) bì thư được niên phong có ký hiệu vụ số 201 ngày 22 - 11 - 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký in họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thanh T, trợ lý giám định Huỳnh Thị Diệu H, bên nhận Phan Vũ L và hình dấu tròn màu đỏ in chữ PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG.

- 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu đỏ, trên nắp chai có gắn một ống thủy tinh được uốn cong màu trắng và một ống hút nhựa màu trắng xanh.

Khi án có hiệu lực pháp luật.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 11/QĐ-VKS-HS ngày 05- 02-2020 bản giao nhận vật chứng ngày 10-02-2020

3/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật hình sự và Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoán 14 về mức thu, nộp, giảm và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Huỳnh Tấn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Bị cáo Huỳnh Tấn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Để yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ