- Tranh chấp gì? "Tẩn Mý Q, phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Mý Q , phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023HS-ST Ngày 22 tháng 11 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Ngoãn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Sếnh và Ông Tẩn Phàn Pao.
Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Trung Sơn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Trang- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo: Họ và tên: Tẩn Mý Q , sinh năm 1960 tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: bản Tả Ph , xã Tả Ph , huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai châu; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Tẩn Lá L (đã chết); Con bà: Tẩn Mán L (đã chết). Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Chồng: Tẩn A S (đã chết), bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1982 và con nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án: có 01 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST, ngày 05/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tuyên bị cáo Tẩn Mý Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt, áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 194 Bộ luật hình sự, xử phạt Tẩn Mý Quai 07 năm 06 tháng tù. Ngày 29/4/2022, Tẩn Mý Q chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương. Tính đến ngày 01/6/2023, Q chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/6/2023 đến ngày 10/6/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Tả Ph và Tạm hoãn xuất cảnh cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tẩn Mý Q , sinh năm 1960, trú tại bản Tả Ph , xã Tả Ph , huyện Sìn Hồ khai, bản thân là người nghiện ma túy. Khoảng 08 giờ ngày 01/6/2023, Q một mình đi bộ từ nhà xuống thị trấn Sìn Hồ để tìm việc làm thuê và tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu vực cây xăng thuộc khu 2, thị trấn Sìn Hồ. Tẩn Mý Q gặp và mua được được của một người phụ nữ dân tộc Dao, khoảng hơn 50 tuổi, không rõ họ tên và địa chỉ 01 gói Heroine, bên ngoài được gói ngoài bằng nilon màu hồng, với giá 600.000 đồng. Mua được Heroine, Tẩn Mý Q cất vào trong túi vải màu xanh, có hoa văn và khóa kéo ngang bụng rồi đi bộ về nhà, còn người phụ nữ bán ma túy đi đâu Q không biết. Về đến nhà, Tẩn Mý Q chia gói Heroine vừa mua được ra làm 05 phần, không cho ai biết, trong đó 04 phần được gói ngoài mỗi phần bằng nilon màu hồng rồi cất vào túi vải màu xanh có hoa văn đeo trên bụng, 01 phần Quai sử dụng ngay tại giường ngủ của mình bằng hình thức hít.
Đến hồi 12 giờ cùng ngày 01/6/2023, khi Tẩn Mý Q đang ở nhà mình cùng với Tẩn Xoang L , sinh năm 1999, trú tại bản Tầm Ch , xã Tả Ph , huyện Sìn Hồ thì Tổ công tác Công an huyện Sìn Hồ đến kiểm tra. Tẩn Mý Q đã tự giác lấy từ trong túi vải màu xanh có hoa văn, có khóa kéo hai đầu đeo ở thắt lưng trước bụng ra giao nộp 04 gói, được gói ngoài bằng nilon màu hồng, bên trong là chất bột màu trắng và khai nhận số chất bột trên là ma túy, loại Heroine của Tẩn Mý Q , tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra Tẩn Xoang L phát hiện, thu giữ tại ốp lưng điện thoại 01 gói được gói ngoài bằng mảnh giấy trắng có dòng kẻ, bên trong là chất bột màu trắng, L tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Cùng ngày Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Tẩn Mý Q nhưng không thu giữ được gì.
Tại bản Kết luận giám định số 54 ngày 01/6/2023, của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 04 mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Tẩn Mý Q gửi giám định, có tổng khối lượng là 0,2 gam. Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ số chất bột màu trắng trên đi giám định chất ma túy. Tại bản kết luận giám định số 638/KL-KTHS ngày 05/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Tại bản Kết luận giám định số 55 ngày 01/6/2023, của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 01 mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Tẩn Xoang L gửi giám định, có tổng khối lượng là 0,02 gam. Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ số chất bột màu trắng trên đi giám định chất ma túy. Tại bản kết luận giám định số 639/KL-KTHS ngày 06/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Bản cáo trạng số 82/CT- VKSSH ngày 09/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố bị cáo Tẩn Mý Q ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tẩn Mý Q không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định và thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố là đúng quy định của pháp luật, không oan, không sai.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tẩn Mý Q , phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tẩn Mý Q từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù; Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu huỷ: 04 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ; 01 túi vải màu xanh, có nhiều hoa văn, có khóa kéo. Đây là vật chứng của vụ án do không còn giá trị sử dụng; đối với 0,2 gam Heroine thu giữ của Tẩn Mý Q và 0,02 gam Heroine thu giữ của Tẩn Xoang L , Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, mẫu vật gửi giám định không hoàn lại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 và Tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc trường hợp người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về vùng miền khó khăn giai đoạn 2021-2025.
Bị cáo Tẩn Mý Q không bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37, Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều là hợp pháp.
Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, hành vi của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Tẩn Mý Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã thu thập đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 12 giờ ngày 01/6/2023, tại nhà ở của mình tại bản Tả Ph , xã Tả Ph , huyện Sìn Hồ. Tẩn Mý Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 04 gói Heroine có tổng khối lượng 0,2 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Sìn Hồ phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo Tẩn Mý Q là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến hình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo Tẩn Mý Q nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST, ngày 05/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tuyên bị cáo Tẩn Mý Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Tẩn Mý Q 07 năm 06 tháng tù. Ngày 29/4/2022, Tẩn Mý Q chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương. Tính đến ngày 01/6/2023, bị cáo Q chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo Tẩn Mý Q lại tiếp tục thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo và giáo dục bị cáo Tẩn Mý Q trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Do đó, lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Tẩn Mý Q từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Tẩn Mý Q phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự, đó là “Tái phạm”.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa. Bị cáo Tẩn Mý Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo, trình độ học vấn 0/12, hiện sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Vì vậy, bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo làm nghề trồng trọt và thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu huỷ: 04 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ; 01 túi vải màu xanh, có nhiều hoa văn, có khóa kéo. Đây là vật chứng của vụ án do không còn giá trị sử dụng; đối với 0,2 gam Heroine thu giữ của Tẩn Mý Q và 0,02 gam Heroine thu giữ của Tẩn Xoang L , Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, mẫu vật gửi giám định không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí:Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Tẩn Mý Q là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo, hiện sinh sống tại bản Tả Ph , xã Tả Ph là bản đặc biệt khó khăn theo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ và quyết định số 612/QĐ- UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về trách nhiệm của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và những người liên quan: Thông qua vụ án này, đề nghị cấp chính quyền địa phương các xã thị trấn, huyện Sìn Hồ cần nâng cao tuyên truyền, giải thích cho người dân có ý thức chấp hành tốt các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tăng cường đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy và có các biện pháp giữ gìn trật tự an ninh trên địa bàn.
Về nguồn gốc số Heroine, Tẩn Mý Q khai nhận mua được của một người đàn phụ nữ dân tộc Dao, không biết nhân thân, lai lịch. Do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, điều tra làm rõ.
Về nguồn gốc 0,02 gam Heroine của Tẩn Xoang L : Quá trình điều tra L khai được Tẩn Mý Q cho, tuy nhiên Tẩn Mý Q không thừa nhận, ngoài lời khai duy nhất của Tẩn Xoang L không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Sìn Hồ không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,02 gam Heroine của Tẩn Xoang L , mục đích để sử dụng, quá trình điều tra xác định Lù chưa có tiền án, tiền sự gì liên quan đến các loại tội phạm về ma túy cũng như vi phạm pháp luật về phòng chống ma túy. Ngày 20/6/2023, Công an huyện Sìn Hồ đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tẩn Xoang L theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 38; khoản 1 Điều 47; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Mý Q , phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn Mý Q : 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù; được khấu trừ thời hạn tạm giữ 09 (chín) ngày, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 09 (chín) tháng 21 (hai mươi một) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3.Về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu huỷ: 01 túi vải màu xanh, có hoa văn, khóa kéo; 04 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ. Đây là vật chứng của vụ án do không còn giá trị sử dụng.
4. Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/11/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Sìn Hồ; - CQCSĐT CA huyện Sìn Hồ; - CQTHAHS CA huyện Sìn Hồ; - CCTHADS huyện Sìn Hồ; - Bị cáo; Lưu Hồ sơ vụ án. HỘI TH M NHÂN DÂN Tẩn A Sếnh Tẩn Phàn Pao. | TM. HỘI ĐỒNG T S TH M TH M PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Ngoãn TM. HỘI ĐỒNG T S TH M TH M PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Ngoãn |