vanban.org

Bản án 07/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Nguyên H tại Cơ sở cai nghiện ma túy số A tỉnh Cà Mau, địa chỉ ấp A, xã K, tỉnh Cà Mau.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị Lê Nguyên H có quyền khiếu nại, Trưởng Công an xã Đ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Nguyên H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Nguyên H tại Cơ sở cai nghiện ma túy số A tỉnh Cà Mau, địa chỉ ấp A, xã K, tỉnh Cà Mau.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/QĐ-TACà Mau, ngày 14 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Kiều Chinh.

Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau, Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 08/2026/QĐ-TA ngày 08 tháng 4 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Lê Nguyên H; giới tính: nam; sinh năm: 2007; số căn cước công dân: 096207008552 cấp ngày 30/10/2023; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi cư trú: ấp B, xã Đ, tỉnh Cà Mau; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: không; tiền án: không; tiền sự: 01 lần; con ông: Lê Hoàng B và bà: Nguyễn Hồng S; người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện hợp pháp của cơ quan đề nghị: Ông Trương Hà T – Là người đại diện theo ủy quyền của Trưởng Công an xã Đ, tỉnh Cà Mau (văn bản ủy quyền ngày 13/4/2026).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Cà Mau tham gia phiên họp: Ông Lâm Văn Chi - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Đối tượng Lê Nguyên H đang được áp dụng biện pháp quản lý do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 292/QĐ-UBND ngày 11/3/2026 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, thời hạn quản lý là 01 năm kể từ ngày 11/3/2026. Ngày 25/3/2026, H có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an xã Đầm Dơi mời Hạo về trụ sở làm việc. Kết quả kiểm tra cho thấy kết quả Lê Nguyên H nghiện ma túy đá. Qua làm việc, H thừa nhận đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đá. Ủy ban nhân dân xã Đ đã thông báo cho H phải đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, tuy nhiên hết thời gian thông báo nhưng H không đăng ký. Do đó Công an xã Đ tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H.

Tại phiên họp, đại diện theo ủy quyền của Trưởng Công an xã Đ đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Nguyên H thời hạn 18 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật, Thẩm phán, Thư ký, người bị đề nghị, cơ quan đề nghị đã thực hiện theo quy định của pháp luật. Về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, căn cứ các điều 3, 7, 20, 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các điều 95, 96, 103, 104, 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, các điều 40, 41, 42, 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, Viện kiểm sát đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Nguyên H với thời hạn 16 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, đề nghị của đại diện theo ủy quyền của Trưởng Công an xã Đ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp,

XÉT THẤY:

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Ngày 25/3/2026, Lê Nguyên H bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, thời hiệu áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Nguyên H đã thực hiện đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định tại các điều 103, 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 40, 41, 42, 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi: Tại biên bản làm việc, biên bản vi phạm và bản tường trình, Lê Nguyên H thừa nhận đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị nghiện. Lời thừa nhận của H phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ. Tại thời điểm sử dụng ma túy, H đã đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế của người sử dụng nhưng vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H là nguy hiểm cho xã hội, đã tác động và gây khó khăn trong việc thực hiện chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

Quá trình lập hồ sơ đã xác định Lê Nguyên H nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Do vậy, việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H là cần thiết và đúng đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, nhằm tạo điều kiện cho H được cai nghiện tốt, phục hồi sức khỏe, đảm bảo điều kiện để tái hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Lê Nguyên H không có tình tiết tăng nặng, tuy nhiên Hạo đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy và được áp dụng biện pháp quản lý theo Quyết định số 292/QĐ-UBND ngày 11/3/2026 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ. Khi bị phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, H đã tự nguyện khai báo, hợp tác tốt với cơ quan chức năng trong quá trình lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính, nên được xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Đề nghị của đại diện theo ủy quyền của Trưởng Công an xã Đ về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về thời gian áp dụng là có căn cứ, phù hợp với các nhận định trên nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Nguyên H tại Cơ sở cai nghiện ma túy số A tỉnh Cà Mau, địa chỉ ấp A, xã K, tỉnh Cà Mau.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị Lê Nguyên H có quyền khiếu nại, Trưởng Công an xã Đ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Trưởng Công an xã Đ và Cơ sở cai nghiện ma túy số 01 tỉnh Cà Mau có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ