- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sầm Thị H + Dương Xuân L - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Sầm Thị H được ly hôn với ông Dương Xuân L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2021/HNGĐ-ST. Ngày: 15/9/2021. V/v “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Hồng Lễ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Chỉnh.
2. Ông Bùi Văn Khiếu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn xét xử công khai vụ án thụ lý số: 129/2021/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2021 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Sầm Thị H, sinh năm 1960- Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Ông Dƣơng Xuân L, sinh năm 1959 - Vắng mặt.
Đều trú tại: Tổ A, phường S, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
* Những người làm chứng: 1. Ông Đặng Mạnh C, sinh năm 1962;
Trú tại: Tổ B, phường Đ, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
2. Ông Vũ Thế H, sinh năm 1969;
Trú tại: Tổ C, phường P, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
3. Anh Dƣơng Xuân Q, sinh năm 1993;
Trú tại: Tổ A, phường S, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Tất cả đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 08/7/2021 và trong quá trình tố tụng bà Sầm Thị H trình bày:
Bà kết hôn với ông Dương Xuân L trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 02 năm 1992 tại UBND phường S, thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố Bắc Kạn), tỉnh Bắc Kạn. Sau khi kết hôn, cuộc sống giữa hai vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 1993 thì phát sinh mâu thuẫn nhỏ và thường xuyên xảy ra, nguyên nhân là quan điểm và cách sống của vợ chồng khác nhau, ông L thường xuyên chửi bới lăng mạ bà và bỏ nhà đi nhiều lần, không cùng bà vun vén cuộc sống gia đình, bà đã nhẫn nhịn và khuyên giải để hàn gắn tình cảm nhưng ông L không nghe dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể khắc phục. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà kiên quyết xin được ly hôn với ông Dương Xuân L.
- Về con chung: Bà và ông L có 01 con chung là Dương Xuân Q, sinh ngày 02/6/1993, hiện nay con đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về phía bị đơn là ông Dương Xuân L: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Dương Xuân L, đồng thời niêm yết các giấy triệu tập và thông báo tại nơi cư trú của ông L rất nhiều lần theo quy định tại Điều 177, 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên ông L vẫn không có mặt tại Tòa án để giải quyết, do đó Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.
* Lời khai của những người làm chứng:
- Lời khai của anh Dương Xuân Q: Anh là con đẻ của bà Sầm Thị H và ông Dương Xuân L, anh sống chung với bố, mẹ đẻ, anh đã rất nhiều lần chứng kiến bố anh thường xuyên chửi bới, đòi mẹ anh lấy tiền để đi chơi bài, nếu mẹ không đưa tiền thì bố tiếp tục chửi bới, đập phá đồ đạc trong nhà và bỏ nhà đi hàng tuần liền không về, mẹ anh phải một mình lo toan các việc lớn nhỏ trong gia đình, bố anh không quan tâm đến gia đình, con cái. Những mâu thuẫn giữa bố mẹ anh dai dẳng kéo dài nhiều năm liền và ngày càng trầm trọng. Nay mẹ anh làm đơn ly hôn thì anh cũng nhất trí và không có ý kiến gì.
- Lời khai của ông Đặng Mạnh C: Ông là em rể của bà Sầm Thị H và ông Dương Xuân L, ông biết việc mâu thuẫn của bà H và ông L từ năm 1993 đến nay, ông đã chứng kiến nhiều lần ông L chửi bới bà H, ông L thường xuyên đòi tiền bà H để đi đánh bài, bà H không có tiền đưa cho thì ông L chửi bới, đập phá đồ đạc trong nhà, nhiều hôm bỏ đi khỏi nhà hàng tuần không về, không quan tâm đến gia đình và con cái. Những mâu thuẫn giữa bà H và ông L diễn ra suốt nhiều năm liền và ngày càng trầm trọng, ông đã khuyên giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay bà H làm đơn ly hôn với ông L thì ông không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Lời khai của ông Vũ Thế H: Ông là em rể của bà Sầm Thị H và ông Dương Xuân L, ông đã chứng kiến nhiều lần ông L chửi bới bà H, đập phá đồ đạc trong nhà, nhiều hôm bỏ đi khỏi nhà hàng tuần không về, không quan tâm đến gia đình và con cái. Những mâu thuẫn giữa bà H và ông L diễn ra suốt nhiều năm liền và ngày càng trầm trọng, ông đã khuyên giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay bà H làm đơn ly hôn với ông L thì ông không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Ý kiến của Viện kiểm sát: Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án và nguyên đơn đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Bà Sầm Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Dương Xuân L. Do đó đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nên theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ, đồng thời niêm yết các giấy triệu tập và các thông báo tại nơi cư trú của ông L nhiều lần theo quy định tại Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do; qua xác minh thì hiện nay ông L vẫn có mặt tại địa phương. Căn cứ vào khoản 1 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án này thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Do vậy, căn cứ khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Sầm Thị H và ông Dương Xuân L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn vào ngày 27 tháng 02 năm 1992 tại UBND phường S, thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố Bắc Kạn), tỉnh Bắc Kạn. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Sầm Thị H và ông Dương Xuân L là hợp pháp. Trong quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn không có mặt để trình bày quá trình hôn nhân, mặc dù ông L vẫn có mặt tại nơi cư trú là tổ 1, phường Sông Cầu, thành phố Bắc Kạn. Qua lấy lời khai của những người làm chứng và xác minh tại địa phương nơi bà H và ông L sinh sống thì được biết ông L thường xuyên chửi bới vợ con, đập phá đồ đạc trong nhà, cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, dù đã được họ hàng, khuyên bảo, hòa giải nhiều lần, nhưng không có kết quả, ông L thường xuyên bỏ nhà đi, không biết đi đâu làm gì, thi thoảng mới về nhà, nên hai vợ chồng đã ly thân với nhau thời gian dài.
Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Sầm Thị H và ông Dương Xuân L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
- Về con chung: Bà Sầm Thị H và ông Dương Xuân L có 01 con chung là Dương Xuân Q, sinh ngày 02/6/1993. Xét thấy hiện nay cháu Quý đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và vay nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Sầm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 228, Điều 229, Điều 238, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Sầm Thị H được ly hôn với ông Dương Xuân L.
2. Về con chung: Bà Sầm Thị H và ông Dương Xuân L có 01 con chung là Dương Xuân Quý, sinh ngày 02/6/1993, hiện nay đã trưởng thành.
3. Về tài sản chung và vay nợ chung: Bà Sầm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Sầm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp ngày 12 tháng 7 năm 2021 theo biên lai số 02248 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Xác nhận bà Sầm Thị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm; vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSNDTP Bắc Kạn; - Chi cục THADSTP Bắc Kạn; - Các đương sự; - UBND phường S, TP Bắc Kạn (Nơi đăng ký kết hôn); - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Hồng Lễ |