- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2026/HSST Ngày: 02/02/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hòa;
Bà Lê Thị Thận.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Dương Thế Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Đồng Nai, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 04/2026/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2026. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2026/ QĐXXST – HS ngày 23 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1989, tại tỉnh Đắk Lắk.
Căn cước công dân số: 066089018XXX
Nơi cư trú: Thôn x, xã El, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc V và bà Đặng Thị N; bị cáo có vợ và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày xx/9/2013, bị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù về Tội cố ý gây thương tích, bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày xx/11/2025 cho đến nay, (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đặng Thái Hoàng – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Đồng Nai.
- Bị hại: Điểu T (đã chết)
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại Điểu T:
1. Bà Thị V, sinh năm 1964, (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn x, xã T, tỉnh Đồng Nai.
2. Chị Điểu Thị H, sinh năm 1998, (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn x, xã Thọ Sơn, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Thị V: Chị Điểu Thị H, sinh năm 1998, (có mặt).
Địa chỉ: Thôn x, xã T, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Điểu B, sinh năm 1974, (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn x, xã T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH dịch vụ vận tải Tân N.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn N – Giám đốc
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố x, phường L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc H có Giấy phép lái xe hạng E số 660160011xxx do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) cấp ngày 26/4/2022. Vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 27/9/2025, H điều khiển xe ô tô khách biển số: 60B - 057.xx (là người lái thuê cho Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ vận tải Tân N), trên cơ thể không có nồng độ cồn, không sử dụng chất ma túy và không sử dụng chất kích thích khác lưu thông trên đường Quốc lộ 14 hướng từ phường Đồng Xoài, tỉnh tỉnh Đồng Nai đi tỉnh tỉnh Lâm Đồng. Khi đến đoạn đường Km 904+100 đường Quốc lộ 14 thuộc thôn Hưng Đăng, xã Bù Đăng, tỉnh Đồng Nai, thì H điều khiển xe ô tô đi sang phần đường bên trái (phần đường dành cho phương tiện lưu thông hướng từ tỉnh Lâm Đồng đi phường Đồng Xoài, tỉnh Đồng Nai để vượt xe ô tô tải đi cùng chiều phía trước (xe của H đã lấn sang phần đường bên trái theo hướng xe H điều khiển thì va chạm với xe mô tô biển số: 93L1 - 122.05 do anh Điểu T điều khiển di chuyển hướng từ tỉnh Lâm Đồng đi Phường Đồng Xoài, tỉnh Đồng Nai (chạy ngược chiều với xe H) gây tai nạn giao thông, làm anh Điểu T bị tử vong tại chỗ, xe ô tô, mô tô bị hư hỏng.
- Tại Kết luận số 2784/KL-KTHS ngày 09/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai xác định:
+ Vị trí va chạm giữa xe ôtô khách biển số 60B-057.xx và xe môtô biển số 93L1 – 122.xx trong vụ tai nạn giao thông: Mặt trước đầu xe và hông bên phải xe môtô có dấu vết bám dính sơn, trượt xước, vỡ nhựa, cong vênh, gãy kim loại, hướng lực tác động từ trước ra sau phù hợp với vị trí mặt trước, bên trái của xe ô tô có dấu vết mất sơn, trượt xước, vỡ nhựa; hướng lực tác động từ trước về sau.
+ Vận tốc của xe ôtô khách biển số 60B-057.XX và xe môtô biển số 93L1 – 122.05 thời điểm trước khi xảy ra tai nạn giao giao thông: Vận tốc của xe ôtô khách biển số 60B-057.XX ngay tại thời điểm để lại dấu vết phanh tại hiện trường là từ 59,1 (km/h) đến 63,2 (km/h); Vận tốc của xe môtô biển số 93L1 – 122.XX: Không đủ cơ sở kết luận.
- Tại Kết luận giám định tử thi số: 2475/KL-KTHS ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai xác định nguyên nhân anh Điểu T tử vong là do chấn thương sọ não, hàm mặt nặng vỡ xương hộp sọ, xuất huyết màng não mềm, dập não, vỡ xương gò má, xương hàm.
- Tại Kết luận giám định Pháp y về độc chất số: 2475/KL-KTHS ngày 16/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai xác định: Mẫu máu của Điểu T được niêm phong gửi giám định không tìm thấy Ethanol; mẫu máu và nước tiểu không tìm thấy ma túy theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định số 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.
- Tại Kết luận định giá tài sản số XX/KL-HĐĐGTS ngày 27/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã Bù Đăng xác định: Tại thời điểm xảy ra tội phạm tổng giá trị những tài sản bị hư hỏng của xe mô tô biển số: 93L1 – 122.XX là 10.000.000 đồng xe ô tô biển số 60B-XX7.XX xác định có giá trị 14.000.000 đồng.
- Về vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đồng Nai đã trả 01 xe ô tô khách biển số: 60B - XX7.XX cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ vận tải Tân N, 01 xe mô tô biển số: 93L1 – 122.XX cho đại diện gia đình bị hại là chị Điểu Thị H.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng chủ xe ô tô khách biển số: 60B - 057.XX bồi thường 270.000.000 đồng cho đại diện gia đình bị hại Điểu T, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm vầ phần dân sự; xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 04/CT –VKS ngày 19/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông dường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 12 đến 15 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng
Bị cáo Nguyễn Ngọc H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận những tình tiết giảm nhẹ mà đại diện viện kiểm sát đã phân tích; xin cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất; đề nghị xử bị cáo 12 tháng tù.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đồng Nai và Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Đồng Nai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Nguyễn Ngọc H có Giấy phép lái xe hạng E số 660160011775 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) cấp ngày 26/4/2022. Vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 27/9/2025, H điều khiển xe ô tô khách biển số: 60B - 057.XX trên cơ thể không có nồng độ cồn, không sử dụng chất ma túy, không sử dụng chất kích thích khác lưu thông trên đường Quốc lộ 14 hướng từ Phường Đồng Xoài, tỉnh Đồng Nai đi tỉnh Lâm Đồng. Khi đến đoạn đường Km 904+100 đường Quốc lộ 14 thuộc thôn Hưng Đăng, xã Bù Đăng, tỉnh Đồng Nai thì H điều khiển xe ô tô đi sang phần đường bên trái (phần đường dành cho phương tiện lưu thông hướng từ tỉnh Lâm Đồng đi phường Đồng Xoài, tỉnh Đồng Nai), vượt xe ô tô đi cùng chiều phía trước không đảm bảo an toàn va chạm với xe mô tô biển số: 93L1 – 122.XX do Điểu T điều khiển di chuyển hướng từ tỉnh Lâm Đồng đi Phường Đồng Xoài, tỉnh Đồng Nai (chạy ngược chiều với xe T) gây tai nạn giao thông. H quả làm Điểu T tử vong tại chỗ.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc H đã vi phạm vào khoản 3 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ.
Điều 14. Vượt xe
“3. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác, đã có tín hiệu rẽ phải và tránh về bên phải.”
Với hậu quả làm anh Điểu T tử vong nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Điều 260: Tội vi phạm về quy định tham gia giao thông đường bộ, quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến XX năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 -Đồng Nai truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng do ý thức chấp hành giao thông kém, chủ quan, cẩu thả nên đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng khiến anh Điểu T tử vong, gây đau thương, mất mát lớn cho gia đình bị hại;
Bản thân bị cáo từng có tiền án về Tội cố ý gây thương tích. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng vẫn bị coi là có nhân thân không tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình cùng với bị đơn dân sự bồi thường khắc phục hậu quả theo yêu cầu của đại diện theo pháp luật của người bị hại, gia đình bị hại đã làm đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương và đang nuôi con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Xét thấy, hành vi của bị cáo là lỗi vô ý, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo làm việc để khắc phục hậu quả, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung cấm lái xe ô tô đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã trả 01 xe ô tô khách biển số: 60B - 057.XX cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ vận tải Tân N, 01 xe mô tô biển số: 93L1 – 122.XX cho đại diện gia đình bị hại là chị Điểu Thị H là đúng quy định của pháp luật Nên Hội Đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng chủ xe ô tô khách biển số: 60B - 057.XX bồi thường 270.000.000 đồng cho đại diện gia đình bị hại Điểu T, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 01 năm tù (một năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện theo theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi và ngĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai. - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Công an tỉnh Đồng Nai; - VKSND khu vực 12 – Đồng Nai; - PTHADS khu vực 12 – Đồng Nai; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. - Tổng số bản án phát hành (12) | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |