- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn L - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – PHÚ THỌ Bản án số: 07/2026/HS-ST Ngày: 27-01-2026. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Bá Khiên và bà Hà Thị Tám.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cao – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16
- Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Triệu Văn Mừng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2026/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 07/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Vì Văn L, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1990, tại: Xã B, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Xóm H, xã B, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn D (đã chết) và bà Vì Thị Ư, sinh năm 1971; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Không có.
Tiền sự: Ngày 22/12/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình áp dụng biệp pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 22 tháng theo Quyết định số: 58/2023/QĐ-TA (chấp hành xong ngày 02/11/2025).
Nhân thân:
- Ngày 20/02/2013, UBND tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục theo Quyết định số: 181/QĐ-UBND (chấp hành xong ngày 25/01/2015);
- Ngày 24/02/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm và xử phạt 04 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chấp hành xong án phạt tù ngày 26/6/2023, chấp hành xong khoản án phí và truy thu tiền ngày 16/2/2020);
- Bị cáo đang trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 1462/QĐ-UBND ngày 04/11/2025 của Chủ tịch UBND xã Bao La, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/11/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ 30 phút, ngày 05/11/2025, Tổ công tác Công an xã Bao La, tỉnh Phú Thọ làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực xóm Hịch 2, xã Bao La, tỉnh Phú Thọ, phát hiện Vì Văn L, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1990, nơi cư trú: Xóm H, xã B, tỉnh Phú Thọ là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 1462/QĐ-UBND ngày 04/11/2025 của Chủ tịch UBND xã Bao La, tỉnh Phú Thọ do Công an xã Bao La quản lý, có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên tổ công tác đã yêu cầu Vì Văn L về trụ sở Công an xã Bao La để tiến hành test nhanh chất ma túy. Quá trình kiểm tra bằng que thử nước tiểu của Vì Văn L cho kết quả: Vì Văn L dương tính với chất ma túy MET (Methamphetamine). Vì Văn L khai nhận, sáng ngày 05/11/2025, Lâm có sử dụng ma túy tổng hợp bằng hình thức dùng giấy bạc đốt hút trực tiếp vào cơ thể. Tổ công tác tiến hành lập biên bản thu mẫu, niêm phong nước tiểu của Vì Văn L để tiến hành trưng cầu giám định để giải quyết theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra Vì Văn L khai nhận hành vi phạm tội như sau: Buổi sáng cùng ngày, L đi từ nhà tại xóm H, xã B, tỉnh Phú Thọ, đón xe buýt đến bến xe buýt thuộc khu vực xã Pà Cò rồi tiếp tục đi bộ lên khu vực đường vắng thì gặp một người đàn ông L không quen biết, L hỏi mua ma tuý, người đàn ông đồng ý nên L đưa cho người đàn ông đó 50.000 đồng, người đàn ông đi khoảng 15 phút thì quay lại và đưa cho L 01 viên nén màu hồng là ma tuý dạng hồng phiến. Sau đó, L cầm ma tuý trên tay đi bộ theo hướng Pà Cò - Bao La rồi bắt xe buýt đi về nhà. Khi về đến nhà, L đã sử dụng hết số ma tuý trên.
Tại Kết luận giám định số: 3154/KL-KTHS, ngày 06/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Trong dung dịch màu vàng (nước tiểu) trong chai nhựa được dán giấy niêm phong có ghi “Mẫu nước tiểu của Vì Văn L, sinh năm 1990, Nơi thường trú: xóm H, xã B, tỉnh Phú Thọ thu giữ ngày 05/11/2025” gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.
* Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, số thứ tự: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
Tại bản Cáo trạng số: 20/CT-VKS-KV16 ngày 08 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ truy tố Vì Văn L về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Vì Văn L phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Vì Văn L từ 26 tháng đến 28 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 06/11/2025.
Về vấn đề khác: Đối với người mà Vì Văn L khai đã bán ma tuý cho Lâm, kết quả điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này, không xác định được là ai nên không có căn cứ đề nghị xử lý.
Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình, do nghiện ma túy nên bị cáo đã mua ma túy về để sử dụng cho bản thân ngoài ra không có mục đích gì khác, thực tế sau khi mua được ma túy vào ngày 05/11/2025 thì bị cáo đã sử dụng hết số ma túy đó.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo đang trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, trong thời gian bị quản lý Công an xã Bao La đã tiến hành kiểm tra chất ma túy và lập biên bản về ghi nhận kết quả việc thử nhanh chất ma túy là dương tính với ma túy loại Methamphetamine và đã tiến hành thu mẫu nước tiểu. Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Vì Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 1462/QĐ-UBND ngày 04/11/2025 của Chủ tịch UBND xã Bao La, tỉnh Phú Thọ, với thời hạn 02 năm tính từ ngày 04/11/2025 đến ngày 04/11/2027. Ngày 05/11/2025, Vì Văn L đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, cùng ngày thì bị Công an xã Bao La, tỉnh Phú Thọ tiến hành kiểm tra và phát hiện.
Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Vì Văn L phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Chứng cứ xác định không có tội: Không có.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp phòng, chống tiến tới loại trừ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó, bị cáo từng bị UBND tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở giáo dục, bị Tòa án xử phạt về tội phạm ma túy và áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, sau khi chấp hành xong không lấy đó làm bài học để rèn luyện, cải tạo bản thân mà tiếp tục mua và sử dụng trái phép chất ma túy cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, tiền án, tiền sự, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nêu trên. Xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về án phí hình sự: Bị cáo Vì Văn L đã được Tòa án nêu quy định của pháp luật là người thuộc hộ cận nghèo thuộc trường hợp miễn án phí, tuy nhiên bị cáo có ý kiến không làm đơn xin miễn án phí và sẽ tự nguyện nộp theo quy định. Do đó bị cáo Vì Văn L phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Vì Văn L phạm tội Sử dụng trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Vì Văn L 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giam 06/11/2025.
2. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Vì Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh PT; - VKSND khu vực 16 – Phú Thọ; - Trại tạm giam số 3 - CA tỉnh Phú Thọ; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan điều tra; - Phòng THADS khu vực 16 – Phú Thọ; - Hồ sơ THAHS; - UBND xã Bao La, tỉnh Phú Thọ; - Công an xã Bao La, tỉnh Phú Thọ; - Người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Phạm Thanh Tùng |