vanban.org

Bản án 07/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 10 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 21/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đ3 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2] Về hình phạt: Áp dụng điểm a, b, e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đ3 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đ - Bị truy tố tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đ3 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2026/HS-ST
Ngày: 21/01/2026

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Dƣơng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Định và bà Vũ Thị Hà.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Bửu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Dũng và bà Lê Thị Thu B - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân khu vực 10 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/HSST, ngày 18 tháng 11 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo: Đua; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

- Sinh ngày: 01/01/1997 tại tỉnh Gia Lai

- CCCD số: 064097004009; Cấp ngày 29 tháng 9 năm 2022; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH.

- Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn B, xã Đ, tỉnh Gia Lai

Nghề nghiệp: Làm nông. Học vấn: Không; Dân tộc: Bana; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A (Đã chết) và bà Đ - Sinh năm: 1975, hiện trú tại: Thôn B, xã Đ, tỉnh Gia Lai. Gia đình có 04 anh em, lớn nhất sinh năm: 1997, nhỏ nhất sinh năm: 2008, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án; Tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/5/2025 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

1/ Lã Bá K - Sinh ngày: 14/6/2009

Trú tại: Thôn C, xã M, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt tại phiên tòa).

2/ Mai Tiến T - Sinh ngày: 01/6/2009

Trú tại: Thôn C, xã M, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt tại phiên tòa).

3/ Đàm Thành Đ1 - Sinh ngày: 11/8/2009

Trú tại: Thôn A, xã M, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt tại phiên tòa).

4/ Phạm Đỗ Y P - Sinh ngày: 02/3/2009

Trú tại: Thôn B, xã Đ, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt tại phiên tòa).

- Người đại diện hợp pháp:

1/ Người đại diện hợp pháp của bị hại Lã Bá K: Ông Lã Văn Đ2 – Sinh năm: 1979

Trú tại: Thôn C, xã M, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt tại phiên tòa).

2/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người đại diện hợp pháp của bị hại Mai Tiến T: Ông Mai Văn T1 – Sinh năm: 1986

Trú tại: Thôn C, xã M, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt tại phiên tòa).

3/ Người đại diện hợp pháp của bị hại Đàm Thành Đ1: Ông Đàm Văn C – Sinh năm: 1979

Trú tại: Thôn A, xã M, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt tại phiên tòa).

4/ Người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Đỗ Y P: Ông Phạm Văn H – Sinh năm: 1984

Trú tại: Thôn B, xã Đ, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Đ3: Ông Trần Mạnh T2 là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lã Bá K, Mai Tiến T, Đàm Thành Đ1 và Phạm Đỗ Y P: Ông Lưu Đình Q là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G (Có mặt tại phiên tòa).

* Người phiên dịch: Bà H1 là người phiên dịch tiếng Bana (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, Đ3 không có giấy phép lái xe theo quy định và đã uống rượu trước đó, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 81P1-269.62 chở Phạm Đỗ Y P (Sinh năm 2009, trú tại thôn B, xã Đ, tỉnh Gia Lai, là em họ của Đ3) không đội mũ bảo hiểm đi đến Trang trại chuối của Công ty H2 tại thôn A, xã M, tỉnh Gia Lai để ngủ. Khi đến đoạn đường K+880m Quốc lộ A thuộc Thôn A, xã M, tỉnh Gia Lai theo hướng xã C đi xã M, thì thấy một xe ô tô đang đi phía trước cùng chiều nên Đ3 điều khiển xe mô tô đi vào phần đường của xe ngược chiều để vượt xe ô tô thì va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Viestar biển kiểm soát 20H1-7506 do Lã Bá K điều khiển chở sau Mai Tiến T không đội mũ bảo hiểm và Đàm Thành Đ1 không đội mũ bảo hiểm đang lưu thông theo hướng ngược lại. Hậu quả, Lã Bá K bị thương phải cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện H3 từ ngày 31/12/2024 đến ngày 02/01/2025 thì chuyển viện đến Bệnh viện N tại thành phố Hồ Chí Minh điều trị từ ngày 03/01/2025 đến ngày 17/01/2025 thì xuất viện. Mai Tiến T bị thương phải cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Nhi tỉnh H3 từ ngày 30/12/2024 đến ngày 03/01/2025. Phạm Đỗ Y P bị thương phải cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Nhi tỉnh H3 từ ngày 30/12/2024 đến ngày 08/01/2025. Đàm Thành Đ1 bị thương phải cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện H3 trong ngày 30/12/2024 thì xuất viện. Đua cũng bị thương phải cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh H3 từ ngày 30/12/2024 đến ngày 20/01/2025 thì xuất viện. Hai xe mô tô bị hư hỏng.

Tại Biên bản kiểm tra ma túy, nồng độ cồn đối với Đ3 và Lã Bá K xác định kết quả: Đua có nồng độ cồn 0,05 mg/l, âm tính với ma túy; Lã Bá K không có nồng độ cồn, âm tính với ma túy.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 151/KLTTCT-TTPY ngày 26/5/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lã Bá K tại thời điểm giám định là 79%.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 150/KLTTCT-TTPY ngày 12/5/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Đỗ Y P tại thời điểm giám định là 75%.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 168/KLTTCT-TTPY ngày 26/5/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh G kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đàm Thành Đ1 tại thời điểm giám định là 06%.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 149/KLTTCT-TTPY ngày 29/4/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh G kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Mai Tiến T tại thời điểm giám định là 03%.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 44/KL-HĐĐGTS ngày 22/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận: Phần hư hỏng xe mô tô biển số 81P1-26962 trị giá 1.100.000 đồng; phần hư hỏng xe mô tô biển số 20H1-7506 trị giá 1.980.000 đồng.

* Về Vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển số 81P1-269.62, màu trắng đỏ đen là tài sản của ông Phạm Văn H, ông H không biết việc con trai là Phạm Đỗ Y P tự ý điều khiển xe mô tô và đưa cho Đ3 sử dụng xe trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 20H1-7506, nhãn hiệu Viestar, số loại 110, số khung VS11001276098, số máy LC152FMH01276098, màu xanh và 01 dè chắn bùn phía sau, gắn biển số 20H1-7506 là tài sản của ông Mai Văn T1, ông T1 không biết việc con trai là Mai Tiến T tự ý điều khiền xe mô tô trên và đưa cho Lã Bá K sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

* Về Dân sự: Bị hại Lã Bá K yêu cầu Đua bồi thường số tiền 70.000.000 đồng, Đ3 đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại tiếp tục yêu cầu Đua bồi thường số tiền 60.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 09/CT-VKSKV10, ngày 15 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Đ3 về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b, e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đ3 phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, b, e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đ3 từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lã Bá K yêu cầu Đua bồi thường số tiền 70.000.000 đồng, Đ3 đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại tiếp tục yêu cầu Đua bồi thường số tiền 60.000.000 đồng.

Ý kiến của bị cáo Đ3: Không có ý kiến

Ý kiến của ngƣời bào chữa cho bị cáo Đ3: Bị cáo Đ3 là người dân tộc thiểu số, không được đi học, không biết chữ, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại cho người bị hại Lã Bá K và người bị hại Phạm Đỗ Y P xin giảm nhẹ, bãi nại cho bị cáo. Mặt khác bị có cũng bị thương tích nặng . Do vậy, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ, xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo Đ3.

Ý kiến của ngƣời đại diện hợp pháp và ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lã Bá K, Mai Tiến T, Đàm Thành Đ1 và Phạm Đỗ Y P: Nhất trí với đề nghị của đại diện viện kiểm sát và nhất trí với thỏa thuận của bị cáo Đ3 tiếp tục bồi thường cho người bị hại Lã Bá K số tiền 60.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Điều tra viên Công an tỉnh G, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, Đ3 không có giấy phép lái xe theo quy định, đã uống rượu trước đó nhưng vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81P1-269.62 chở theo Phạm Đỗ Y P không đội mũ bảo hiểm lưu thông trên Quốc lộ A hướng từ xã C đi xã M, tỉnh Gia Lai. Khi đến đoạn đường K+880m Quốc lộ A thuộc Thôn A, xã M, tỉnh Gia Lai, Đ3 điều khiển xe mô tô đi vào phần đường của xe đi ngược chiều để vượt bên trái xe ô tô đi cùng chiều, dẫn đến va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 20H1-7506 do Lã Bá K điều khiển chở Đàm Thành Đ1 và Mai Tiến T lưu thông đúng phần đường theo hướng ngược lại. Hậu quả làm Phạm Đỗ Y P bị tổn hại sức khỏe 75%, Lã Bá K bị tổn hại sức khỏe 79%, Đàm Thành Đ1 bị tổn hại sức khỏe 6%, Mai Tiến T bị tổn hại sức khỏe 3%, hai xe mô tô bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 3.080.000 đồng. Lỗi để xảy ra vụ tai nạn là do Đ3 đi vào phần đường của xe đi ngược chiều để vượt xe ô tô đi cùng chiều không đảm bảo an toàn. Hành vi đó của bị cáo đã vi phạm các quy định tại khoản 8, 9 Điều 8; khoản 2 Điều 14 và khoản 2 Điều 30 Luật Giao thông đường bộ, xâm phạm đến quy định trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây ra hậu quả rất nghiêm trọng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Đ3 về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b, e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại rất nghiêm trọng đến sức khỏe, tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại Lã Bá K số tiền 10.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo chấp nhận yêu của bị hại Lã Bá K về việc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Lã Bá K 60.000.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được đi học, không biết chữ, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và người bị hại Phạm Đỗ Y P xin giảm nhẹ, bãi nại cho bị cáo nên cần áp dụng tình tiết giảm quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo Đ3 có nhân thân tốt, trước đây chưa vi phạm pháp luật.

Về hình phạt: Bị cáo đã vi phạm pháp Luật Hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thời gian từ 36 đến 42 tháng tù là phù hợp, đảm bảo đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Đối với yêu cầu xử bị cáo dưới khung hình phạt của người bào chữa cho bị cáo Đ3 không phù hợp nên không được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng vụ án:

- Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, biển số 81P1-269.62, màu trắng đỏ đen là tài sản của ông Phạm Văn H, ông H không biết việc con trai là Phạm Đỗ Y P tự ý điều khiển xe mô tô và đưa cho Đ3 sử dụng xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Xe mô tô biển số 20H1-7506, nhãn hiệu Viestar, số loại 110, số khung VS11001276098, số máy LC152FMH01276098, màu xanh và 01 dè chắn bùn phía sau, gắn biển số 20H1-7506 là tài sản của ông Mai Văn T1, ông T1 không biết việc con trai là Mai Tiến T tự ý điều khiền xe mô tô và đưa cho Lã Bá K sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Đ3 đã bồi thường cho bị hại Lã Bá K số tiền 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo chấp nhận yêu của bị hại Lã Bá K về việc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Lã Bá K 60.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với những người bị hại Mai Tiến T, Đàm Thành Đ1 và Phạm Đỗ Y P và người có quyền lợi,và nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và sống trong vùng kinh tế đạc biệt khó khăn, có đơn xin được miễn án phí nên xét thấy cần miễn án phí hình sự, dân sự cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đ3 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2] Về hình phạt: Áp dụng điểm a, b, e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đ3 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

[3] Về phần bồi thường dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Đ3 phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Lã Bá K số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).

Kể từ ngày Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có Đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Miễn án phí hình sự, dân sự cho bị cáo.

[4] Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 21/01/2026), bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với người bị hại, người đại diện hợp pháp và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ