vanban.org

Bản án 07/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Cẩm G Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Cẩm G và anh Huỳnh Văn M.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5- AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 12/01/2026
V/v:“Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lữ Cẩm Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Hoàng Giang;

2. Bà Trần Ngọc Điệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Nhã- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang.

Ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 268/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc "Tranh chấp ly hôn và nuôi con " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 369/2025/QĐXX-ST ngày 17 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Cẩm G, sinh năm 1977

Địa chỉ: Ấp V, xã L, tỉnh An Giang.

(Chị G có mặt)

Bị đơn: Anh Huỳnh Văn M, sinh năm 1975

Địa chỉ: Ấp H, H, tỉnh An Giang.

(Anh M1 có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 22/9/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà nguyên đơn chị Nguyễn Cẩm G trình bày: Vào năm 1997 chị và anh Huỳnh Văn M cùng nhau đi đến hôn nhân, trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 06/6/2016.

Cuộc sống chung vợ chồng lúc đầu hạnh phúc nhưng sau đó thời gian đến năm 2024 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, chủ yếu về vấn đề kinh tế thường hay xảy ra cự cải, không hợp nhau về tính tình và cách sống dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung và vợ chồng không còn hạnh phúc nữa, chị đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ năm 2024 cho đến nay và cũng từ thời gian đó vợ chồng chị đã sống ly thân với nhau.

Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh M nữa nên quyết định ly hôn với anh M.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh M có 03 con chung tên Huỳnh Văn H, sinh ngày 20/03/1998 và Huỳnh Thị T, sinh ngày 15/6/2003, Huỳnh Ngọc H1, sinh ngày 12/10/2019 hiện nay cháu H, cháu T đã trưởng thành còn cháu H1 đang sống cùng chị.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị không có tạo lập được tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết còn về phần nợ thì vợ chồng cũng không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Cẩm G yêu cầu:

- Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh Huỳnh Văn M

- Về con chung: Yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Ngọc H1, sinh ngày 12/10/2019 và không yêu cầu anh M1 cấp dưỡng nuôi con.

Đối với 02 con chung tên Huỳnh Văn H, sinh ngày 20/03/1998 và Huỳnh Thị T, sinh ngày 15/6/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn anh Huỳnh Văn M trình bày tại bản tự khai ngày 01/12/2025 và đơn xin vắng mặt ngày 17/12/2025 như sau: Anh M thống nhất theo ý kiến trình bày của chị G về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung là đúng.

Nay chị G yêu cầu xin ly hôn với anh thì ý kiến anh như sau:

- Về hôn nhân: Đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Cẩm G

- Về con chung: Đồng ý giao con chung tên Huỳnh Ngọc H1, sinh ngày 12/10/2019 cho chị G chăm sóc, nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.

Đối với 02 con chung tên Huỳnh Văn H, sinh ngày 20/03/1998 và Huỳnh Thị T, sinh ngày 15/6/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại phiên tòa chị G vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh M1. Anh M1 có đơn xin vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị G khởi kiện tranh chấp xin ly hôn với bị đơn anh M có địa chỉ ấp H, xã H, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang đã triệu tập hợp lệ anh M tham gia phiên tòa nhưng bị đơn anh M vẫn tiếp tục vắng mặt và có đơn xin vắng mặt đồng thời tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng anh M là phù hợp theo quy định pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Chị G và anh M1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2016 tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2024 anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị G nguyên nhân chủ yếu về vấn đề kinh tế thường hay xảy ra cự cải, không hợp nhau về tính tình và cách sống dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung và vợ chồng không còn hạnh phúc nữa. Thực tế vợ chồng chị đã sống trong tình trạng ly thân trong thời gian từ năm 2024 cho đến nay và vấn đề này cũng được anh M xác nhận đồng thời anh M cũng đồng ý ly hôn với chị G. Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị G và anh M đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị G yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M để ổn định cuộc sống. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G, xử cho chị G được ly hôn anh M là hoàn toàn phù hợp theo quy định pháp luật.

[3] Về quan hệ con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án chị G và anh M cùng xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 03 con chung tên Huỳnh Văn H, sinh ngày 20/03/1998 và Huỳnh Thị T, sinh ngày 15/6/2003, Huỳnh Ngọc H1, sinh ngày 12/10/2019. HĐXX xét thấy hiện nay cháu H, cháu T đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết còn cháu H1 đang sống cùng chị G. Chị G có yêu cầu được được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H1 và anh M cũng tự nguyện đồng ý đồng thời cũng phù hợp theo nguyện vọng của con nên cần tiếp tục giao cháu H1 cho chị G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp theo quy định pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã giải thích cho chị G về quyền yêu cầu về quyền, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nhưng chị G xác định không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con, xét thấy việc chị G không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị G xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời cũng phù hợp theo ý kiến trình bày của anh M tại bản tự khai ngày 01/12/2025. Do đó, về phần tài sản chung HĐXX không xem xét nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

[6] Về nợ chung: Chị G xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời cũng phù hợp theo ý kiến trình bày của anh M tại bản tự khai ngày 01/12/2025 nên HĐXX không xem xét.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị G là nguyên đơn nên phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Cẩm G

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Cẩm G và anh Huỳnh Văn M.

2. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị G và anh M là giao con chung tên Huỳnh Ngọc H1, sinh ngày 12/10/2019 cho chị G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi (Phù hợp theo nguyện vọng của con), anh M1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh M1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị G và anh M xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị G và anh M xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Chị G phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 0004789 ngày 16 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh A; chị G không phải nộp thêm.

“ Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ