vanban.org

Bản án 07/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thị RM về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” với anh Danh P.

Về hôn nhân: Cho chị Thị RM được ly hôn với anh Danh P. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Danh Chí T, sinh ngày 08/5/2015 và cháu Danh Thị Ngọc T2, sinh ngày 03/6/2018 cho chị Thị RM trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Thị RM - anh Danh P "Tranh chấp ly hôn và nuôi con""
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thị RM về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” với anh Danh P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

------------
Bản án số: 07/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 08/01/2026
V/v:“Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Phạm Ngọc Khánh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Hợp

2. Ông Hà Ứng Cương

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chí Thăng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 86/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 74/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thị RM, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp VR, xã S, tỉnh AG.

- Bị đơn: Anh Danh P, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp PL, xã T, tỉnh AG.

(Chị Thị RM có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Danh P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/10/2025, bản tự khai ngày 22/10/2025, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thị RM trình bày:

Chị và anh Danh P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Trong thời gian chung sống tôi và anh Danh P có 02 con chung là cháu Danh Chí T, sinh ngày 08/5/2015 và cháu Danh Thị Ngọc T2, sinh ngày 03/6/2018; về tài sản chung và nợ chung không có.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên gần đây có nhiều mâu thuẫn, bất đồng trong cuộc sống. Mặc dù chị đã nhiều lần cố gắng giải quyết những bất đồng, những mâu thuẫn phát sinh, song vẫn không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nhận thấy mâu thuẫn kéo dài không thể giải quyết được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Danh P;

- Về con chung: Yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Danh Chí T, sinh ngày 08/5/2015 và cháu Danh Thị Ngọc T2, sinh ngày 03/6/2018, không yêu cầu anh Phèo cấp dưỡng nuôi con;

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết;

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Bị đơn anh Danh P đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các thủ tục đúng theo trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự quy định nhưng anh Danh P vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến trình bày của bị đơn.

* Tại Biên bản xác minh ngày 24/10/2025 đối với Phó Ban Lãnh Đạo ấp Phước Lợi, xã Thạnh Lộc, tỉnh An Giang:

Ban lãnh đạo ấp Phước Lợi, xã Thạnh Lộc, tỉnh An Giang xác nhận anh Danh P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Phước Lợi, xã Thạnh Lộc, tỉnh An Giang và hiện tại đương sự không có mặt tại địa phương nhưng vẫn thường xuyên đi về nhà.

* Tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chưa thành niên ngày 25/11/2025, cháu Danh Chí T trình bày: Nay cha mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ, cháu muốn được mẹ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

* Tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chưa thành niên ngày 25/11/2025 cháu Danh Thị Ngọc T2 trình bày: Nay cha mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ, cháu muốn được mẹ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – An Giang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Chị Thị RM yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Danh P nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”. Bị đơn anh Danh P có nơi cư trú tại ấp Phước Lợi, xã Thạnh Lộc, tỉnh An Giang nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Chị Thị RM có đơn xin xét xử vắng mặt, đối với anh Danh P thì Toà án đã làm đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Phèo vẫn vắng mặt không lý do và chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Thị RM. Do đó căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị RM và anh Danh P xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang do đó quan hệ hôn nhân của chị Thị RM và anh Danh P là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Thị RM yêu cầu ly hôn với anh Danh P: Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Thị RM xác nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên sau đó có nhiều mâu thuẫn, bất đồng trong cuộc sống. Mặc dù chị đã nhiều lần cố gắng giải quyết những bất đồng, những mâu thuẫn phát sinh, song vẫn không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Mặc dù Tòa án đã mở phiên hòa giải nhằm mục đích động viên chị Thị RM và anh Danh P hàn gắn đoàn tụ nhưng hòa giải không thành, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để anh Danh P có mặt tham gia phiên tòa nhưng anh Danh P vắng mặt, đồng thời chị Thị RM cương quyết yêu cầu ly hôn với anh Danh P. Hội đồng xét xử thấy rằng chị Thị RM không còn tự nguyện chung sống với anh Danh P nữa nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị RM về việc xin ly hôn với anh Danh P là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 2, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung:

Trong thời gian chung sống chị chị Thị RM và anh Danh P có 02 con chung là cháu Danh Chí T, sinh ngày 08/5/2015 và cháu Danh Thị Ngọc T2, sinh ngày 03/6/2018, chị Thị RM yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh Danh P cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ sau khi ly thân đến nay chị Thị RM là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 cháu. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu T, cháu T2 cho chị Thị RM tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng để không làm thay đổi môi trường sống của 02 cháu, phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu và phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Về việc cấp dưỡng nuôi con: do chị Thị RM tự nguyện không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Anh Danh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thị RM xác định trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung và cam kết là không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh Danh P đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Danh P vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, không tiến hành đối chất được về tài sản chung và nợ chung giữa chị Thị RM và anh Danh P. Do đó, về tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận xem xét.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị RM về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con đối với anh Danh P

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thị RM là nguyên đơn trong vụ án nên chị Thị RM phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 2, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thị RM về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” với anh Danh P.

1. Về hôn nhân: Cho chị Thị RM được ly hôn với anh Danh P.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Danh Chí T, sinh ngày 08/5/2015 và cháu Danh Thị Ngọc T2, sinh ngày 03/6/2018 cho chị Thị RM trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị Thị RM tự nguyện không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Danh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thị RM xác định không có tài sản chung và cam kết không có nợ nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thị RM phải nộp tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005698 ngày 22/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh An Giang.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ