- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGuyễn Văn Linh - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm q khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/HSST Ngày 25-02 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG - TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Phương
2. Ông Bùi Sỹ Thắng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:10/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025.
Đối với bị cáo: Nguyễn Văn L, sinh ngày 19 tháng 07 năm 1987; Căn cước công dân số:038087014858
Nơi cư trúTP huyện QX, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị K Gia đình có 02 người con bị cáo là con đầu. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị B (đang chấp hành án phạt tù), có hai con, con lớn sinh nam 2017 và con nhỏ sinh năm 2021,
Tiền sự: Không; Tiền án: 02
Bản án số: 119/2008/HSST ngày 01/08/2008 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai đã xử phạt Nguyễn Văn L 06 năm tù về tội “Cướp tài sản” đã chấp hành xong phần TNDS ngày 01/7/2008, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/10/2014.
Bản án số: 50/2021/HSST ngày 03/8/2021 của TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá xử phạt Nguyễn Văn L 03 năm tù về “Tội mua bán trái phép chất ma tuý” xảy ra ngày 12/3/2021. Đã chấp hành xong phần TNDS ngày10/12/2021, chấp hành xong án phạt tù ngày 12/9/2023.
Nhân thân: Bản án số:04/2011/HSST ngày 19/01/2011 của TAND huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đã xử phạt Nguyễn Văn L 12 tháng tù về “Tội trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt với bản án số:119/2008/HSST ngày 01/08/2008 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai đã xử phạt Nguyễn Văn L 06 năm tù về tội “ Cướp tài sản”. Chấp hành xong hai bản án ngày 05/10/2014.
Ngày 05/6/2016 bị Công an Phường Quảng Thành xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” đã nộp phạt ngày 07/6/2016.
Bản án số: 50/2017/HSST ngày 14/9/2017 của TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá xử phạt Nguyễn Văn L 15 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” ngày 09/5/2017, chấp hành xong TNDS ngày 25/12/2017, chấp hành án phạt tù xong ngày 12/9/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/10/2024 đến ngày 17/10/2024 thì chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Xương (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
Người làm chứng: Anh Lê Thế H, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Nơi cư trú: QN, huyện QX, tỉnh Thanh Hoá.
NỘI DNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội Dng vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09giờ 50 phút giờ ngày 08/10/2024 Lê Thế H sinh năm 1987 ở thôn Ước Thành, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương sử dụng zalo “Lê Thế H” gọi đến tài khoản zalo “Soi Cô Độc” của Nguyễn Văn L hỏi mua 500.000đ (Năm trăm nghìn) ma tuý đá. L đồng ý và yêu cầu chuyển khoản trước. Do tài khoản của L đang bị rỗi không rút được tiền. Khi đó có D là bạn L đang chơi ở nhà L nên L hỏi D có tài khoản không đọc số tài khoản cho L mượn tạm để nhận tiền chuyển khoản và không nói cho D biết là tiền gì. D trả lời D không có tài khoản nhưng D nhớ số tài khoản của mẹ D nên đã đọc cho L số tài khoản Ngân hàng MB Bank 0587706337 mang tên Phạm Thị Hương, sinh năm 1962, thôn Quang Tiền, xã Quảng Đức, huyện Quảng Xương.
Lê Thế H nhờ bạn là Nguyễn Quang Tú sinh năm 1985, ở thôn Ước Thành, xã Quảng Ninh chở H đến cửa hàng của Nguyễn Văn H sinh năm 1984 ở thôn Ước Thành, xã Quảng Ninh nhờ chuyển khoản 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) đến số tài khoản L gửi cho Lê Thế H bằng xe của mô tô Yamaha Exciter BKS:36 B4-654.32. Sau khi chuyển tiền Lê Thế H gọi zalo cho L báo đã chuyển tiền và hẹn gặp L tại cổng nhà L. H tới nơi thì thấy L điều khiển xe mô tô của Nguyễn Thị N hiệu Honda Vision BKS: 36AC-554.17 chở theo N sinh năm 1983 ở số 10 Lê Thước, phường Trường Thi, thành phố Thanh Hoá là bạn gái của L đang đứng chờ.
Thấy H đến L điều khiển xe đến song song với H rồi L đưa cho H một túi nilon dạng túi zip màu trắng trong suốt, kích thước khoảng (2 x 1,5)cm miệng túi có viền đỏ được dán một lớp băng dính màu đỏ-xanh) bên trong là các tinh thể màu trắng. Sau đó L chở N đi còn H nhận được ma tuý thì quay xe về và rủ Tú đi ăn trưa tại quán gần trạm CSGT huyện Quảng Xương. Ăn xong L trả xe cho Tú về rồi đi vào quán thì Tổ Công tác Công an huyện Quảng Xương đang làm nhiệm vụ thấy H có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra hành chính thì H tự nguyện giao nộp gói ma tuý mới mua của L, lực lượng chức năng đã lập biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng ký hiệu M.
Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày 08/10/2024 L biết H bị phát hiện việc cất dấu ma tuý mới mua của L nên L đã đến Cơ quan Công an huyện Quang Xương đầu thú.
Khám xét khẩn cấp phòng trọ của L tại Phố Thịnh H, phường Quảng Thịnh, thành phố Thanh Hoá (L thường đưa bạn gái là N đến ở đây).
Thu giữ một túi nilon dạng túi zip màu trắng trong suốt, kích thước khoảng (9 x 6)cm miệng túi màu xanh bên trong có chứa 78 vỏ túi nilon dạng túi zip màu trắng trong suốt có kích thước (2x1,5)cm; 01 túi kích thước khoảng (6x4) cm miệng túi có viền màu xanh bên trong có chưa 51 túi zip nhỏ. Kích thước mỗi túi nhỏ khoảng (2 x 1,5)cm. L khai các vỏ túi nilon dạng túi zip dùng để bỏ ma tuý;
01 mảnh nilon bám dính chất màu hồng (L khai trước đó đã dùng gói hồng phiến, L đã sử dụng; Cơ quan điều tra đã lập biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng ký hiệu N.
Thu giữ 01 điện thoại Iphone 11 Promax L sử dụng liên lạc với H bán ma tuý.
Bà Phạm Thị Hương giao nộp 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng ) là tiền H chuyển cho L để mua ma tuý
Tại bản kết luận giám định số: 3854/KL-KTHS ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận.
-Các chất tinh thể màu trắng thu của Lê Thế H là ma tuý có tổng khối lượng là 0,046g loại Methamphetamine.
Chất màu hồng bám dính bên trong mảnh nilon màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn L là ma tuý loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn L khai vào khoảng tháng 09 năm 2024 L mua được 02 viên hồng phiến và 02 gói ma tuý đá với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng) của một người không quen biết tại khu vực đường tránh Phường Quảng Thịnh, thành phố Thanh Hoá. L liên hệ trên nền tảng Telegam. Sau khi mua được ma tuý L đã xoá ứng dụng Telegam. L đã sử dụng hết 02 viên hồng phiến và 01 gói ma tuý đá còn lại 01 gói bán cho H.
Quá trình điều tra xác định N không biết việc L đưa hàng cho H và không biết việc L cất dấu ma tuý. Bà H và con trai là Phạm Văn D không biết việc L nhờ tài khoản để nhận tiền do bán ma tuý. Tú cho H mượn xe máy không biết H đi mua ma tuý và Nguyễn Thế H là người chuyển hộ tiền cho Lê Thế H nhưng không biết việc H chuyển tiền mua ma tuý.
Tại kết luận giám định số:3854/KL-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: “Các tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,046 gam lại Methamphetamine;
Chất màu hồng bán dính bên trong mảnh nilon màu trắgn của phong bì niêm phong ký hiêun N gửi giám định là am tuý loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng chất ma tuý bám dính”
Tại Cáo trạng số: 14/CTr-VKSQX ngày 20/01/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của BLHS.
Tại phiên toà đại diện VKSND huyện Quảng Xương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự đề nghị tuyên bố Nguyễn Văn L phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 08 (Tám) năm tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn L.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 cuả BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy còn lại sau giám định. Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại iphon 11 Pro Max sử dụng vào việc phạm tội, tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), tịch thu tiêu huỷ toàn bộ túi nilong thu giữ tại phòng trọ của bị cáo.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng số: 14/CTr-VKSQX ngày 20/01/2025 đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì về tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội Dng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, của Viện kiểm sát huyện Quảng Xương trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
. Về tội danh: Có căn cứ xác định: Bị cáo Nguyễn Văn L đã 05 lần phạm tội bị xét xử, 03 bản án đã được xoá án tích và 02 bản án chưa xoá án tích. Trong đó bản án: 50/2021/HSST ngày 03/8/2021 của TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá xử phạt Nguyễn Văn L 03 năm tù về “Tội mua bán trái phép chất ma tuý” đã xác định bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo lại tiếp tục bán cho Lê Thế H 01 gói ma tuý đá dạng (Các chất tinh thể màu trắng) có tổng khối lượng là 0,046g loại Methamphetamine. Đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn L phạm “Tội Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251của BLHS.
Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về “Tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm nghiêm trọng về chế độ quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy. Trong tình trạng thực tế, hiện tượng nghiện hút, tiêm chích ma túy đang là vấn đề cảnh báo trên địa bàn và là vấn nạn của toàn xã hội. Ma túy đã làm băng hoại đạo đức, thuần phong mỹ tục, tan nát bao gia đình và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác như “trộm cắp”; “lừa đảo”; “cố ý gây thương tích”; thậm chí “giết người” cũng chỉ để thỏa mãn mục đích có tiền để hút hít. Do đó hành vi cất dấu ma tuý của bị cáo để bán kiếm lời cần phải được xử lý nghiêm minh đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 02 tiền án đã bị truy tố là tình tiết định khung nên không bị áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn L thành khẩn khai báo trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử về hành vi bán ma tuý cho Lê Thế H và tự nguyện đến cơ quan điều tra đầu thú. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Hình phạt: HĐXX xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Văn L khỏi xã hội một thời gian, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt và đảm bảo tính răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn L không có thu nhập ổn định HĐXX không phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn L.
. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 cuả BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ vật chứng là số ma tuý còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành. Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ túi nilon không còn giá trị. Tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphon 11 Pro Max dùng vào việc phạm tội, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng)
.Về án phí: HĐXX khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự cho bị cáo Nguyễn Văn L.
Trong vụ án này: Nguyễn Thị N (bạn gái của L) không biết việc L đưa hàng cho H và không biết việc L cất dấu ma tuý nên N không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn L.
Bà Hương và con trai là Phạm Văn D không biết việc L nhờ tài khoản để nhận tiền do bán ma tuý nên không phạm tội. Tú cho H mượn xe máy không biết H đi mua ma tuý và Nguyễn Thế H là người chuyển hộ tiền cho Lê Thế H nhưng không biết việc H chuyển tiền mua ma tuý. Nên Tú và Nguyễn Thế H không phạm tội.
Lê Thế H mua ma tuý của Nguyễn Văn L về để sử dụng, chưa kịp dùng thì bị bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng. Lê Thế H chưa có tiền án, tiền sự mua 0,046g ma tuý của L với mục đích để sử dụng nên hành vi của H chưa đủ cấu thanh tội nên đã bị xử phạt hành chính tại Quyết định số: 11/QĐ-XPHC ngày 17/01/2025 hình thức phạt tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) là đúng quy định. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ áp dụng pháp luật:
- Điểm q khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
- Khoản 2, Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Khoản 1 Điều 329; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm “Tội mua bán trái phép chất ma túy”.
3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày giam, giữ 08/10/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
- Không phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn L.
4. Về vật chứng vụ án:
-Tịch thu tiêu hủy gồm:
+ 01 (một) phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, phong bì được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh Tiến, Trần Thị Thuý Hằng, Đàm Đình Dũng, Nguyễn Quag Huy cùng 06 hình con dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá (bên trong được cho là ma tuý còn lại sau giám định);
+ 01 túi nilon màu trắng trong suốt, kích thước (9x6)cm bên trong có chứa 78 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng túi viền xanh, kích thước mỗi túi khoản (2 x1,5)cm;
+ 01 túi nilon màu trắng trong suốt, miệng túi viền đỏ, kích thước (6x4)cm bên trong có chứa 51 vỏ túi nilon màu trắng trong suốt, miệng túi viền xanh, kích thước mỗi túi khoản (2 x1,5)cm;
- Tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max số seri FK1ZL1P4N70T được đựng trong 01 (một) phong bì do Công an huyện Quảng Xương phát hành, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Đàm Đình Dũng, Trương Ngọc Nhất, Phạm Thị Minh, Nguyễn Văn L cùng 05 hình con dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Xương.
Toàn bộ vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/02/2025.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 500.000đ tiền thu lợi bất chính theo biên lai thu tiền số 0000997 ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án sơ thẩm có mặt bị cáo Nguyễn Văn L. Bị cáo Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN - THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Sỹ Thắng Lê Thị Phương
Trần Thị Quyên
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND H. Quảng Xương; - Phòng 7 VKS tỉnh Thanh Hoá; - Cơ quan tạm giữ Công an huyện Quảng Xương; - CQ THA dân sự; - CQ điều tra Công an H.Quảng Xương; - Lưu hồ sơ vụ án CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Thị Thảo Lương Thanh Hải | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Quyên HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIEN TÒA Trần Thị Quyên |