vanban.org

Bản án 07/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Duy T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lê Duy T 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2025 (Ngày bắt tạm giữ bị cáo). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Duy T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày 28 - 8 -2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Việt và bà Hà Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Tường Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST- HS ngày 14 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Duy T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1973, tại xã V, tỉnh T (Nay là xã T, tỉnh H). Nơi cư trú: Tiểu khu 11, xã M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lê Duy C (đã chết) và bà Hoàng Thị T (đã chết); bị cáo có vợ Nguyễn Thị Hoàng A, sinh năm 1982 và có 02 con: con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/01/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 42 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2025 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/4/2025, Bị cáo Lê Duy T điều khiển xe mô tô hiệu HONDA, Wave màu xanh, đen, bạc, BKS 28E1-137.14 đi từ nhà tại tiểu khu 11, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là tiểu khu 11, xã M, tỉnh Sơn La) đến khu vực bản 428, xã H, huyện M (nay là bản 428, xã M, tỉnh Sơn La) để mua Hồng phiến và Heroine về sử dụng. Trên đường đi bị cáo T gặp một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) và hỏi mua được 02 viên Hồng phiến được gói bằng mảnh nilon màu hồng cùng 01 gói Heroine được gói bằng giấy trắng có in chữ màu đen với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo bỏ 02 viên hồng phiến ra nghiền nát thành bột, trộn lẫn với một ít Heroine rồi sử dụng, số ma túy dạng bột còn lại bị cáo gói bằng mảnh nilon màu hồng và dùng mảnh giấy màu trắng có in chữ màu đen gói lại bên ngoài, sau đó cất giấu vào vỏ bao thuốc lá màu vàng có in chữ Thăng Long, để trên giá để đồ trên xe mô tô rồi điều khiển xe về. Trên đường về, bị cáo T bị tổ công tác phòng PC04 Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an thị trấn Hát Lót kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng có đặc điểm nêu trên. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô hiệu Honda wave màu xanh, đen, bạc, BKS 28E1-137.14; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A78 vỏ màu xám đen, kèm 01 sim điện thoại.

Ngày 29/4/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Phòng Kỹ thuật sự Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Lê Duy T, kết quả: Khối lượng chất bột màu trắng và màu hồng là 0,18 gam, trích rút toàn bộ ký hiệu T1 bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.

Tại kết luận giám định số: 524 ngày 06/5/2025 của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine và Heroine có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là T1 = 0,18 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định’’

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Lê Duy T khai mua của người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại bản 428, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là bản 428, xã M, tỉnh Sơn La) với giá 300.000 đồng, việc mua bán không có ai biết và chứng kiến do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án.

Do có hành vi nêu trên tại tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKS ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Sơn La truy tố Lê Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Lê Duy T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mua 0,18 gam Methamphetamine và Heroine để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.

* Tranh luận tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Duy T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lê Duy T từ 18 tháng đến 22 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2025 là ngày bắt tạm giữ đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư màu trắng đã được niêm phòng bằng giấy niêm phong số 00437377 do Công an tỉnh Sơn La phát hành, một mặt ghi: ‘‘CÔNG AN TỈNH SƠN LA PHONG BÌ NIÊM PHONG, Vật chứng vụ: Lê Duy T - Tàng trữ trái phép chất ma túy, niêm phong hồi 17 giờ 20 phút ngày 29/4/2025 tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La. Bên trong gồm có: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu + 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng + 01 mảnh giấy màu trắng có in dòng chữ màu đen + 01 vỏ ni lon màu hồng’’.

Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA, Wave màu xanh, đen, bạc mang biển kiểm soát 28E1-137.14, số máy JA39E0349790, số khung RLHJA3907HY349756, yên xe bị rách nhiều chỗ, có 01 gương chiếu hậu bên trái, kèm theo 01 chìa khóa.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A78 vỏ màu xám đen, kèm 01 sim, bị trầy xước nhiều chỗ, đã qua sử dụng, cũ.

- Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Duy T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của bị cáo Lê Duy T tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì thêm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Duy T: Ngày 29/4/2025 bị cáo Lê Duy T có hành vi đi mua và cất giấu trái phép 0,18 gam Methamphetamine và Heroine mục đích để sử dụng. Khi đang trên đường quay về đến tiểu khu 12, thị trấn Hát Lót, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là tiểu khu 12, xã M, tỉnh Sơn La) thì bị tổ công tác phòng PC 04 Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an Thị trấn Hát Lót, huyện M, tỉnh Sơn La kiểm tra, phát hiện. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Lê Duy T và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an tỉnh Sơn La lập hồi 13 giờ 25 phút ngày 29/4/2025 tại tiểu khu 12, thị trấn Hát Lót, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là tiểu khu 12, xã M, tỉnh Sơn La) đối với Lê Duy T cùng vật chứng thu giữ là 01 gói chất bột màu trắng, hồng nghi là ma túy loại Methamphetamine và Heroine; 01 xe máy hiệu Honda wave màu xanh, đen, bạc, BKS 28E1-137.14 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A78 vỏ màu xám đen, kèm 01 sim điện thoại.

- Biên bản mở niêm phong, cân tịnh vật chứng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại vật chứng lập hồi 17 giờ 10 phút ngày 29/4/2025 tại Công an tỉnh Sơn La xác định: Bên trong 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có 01 gói giấy màu trắng in dòng chữ màu đen, bên trong có 01 gói nilon màu hồng đựng hỗn hợp chất bột màu trắng, hồng, nghi là ma túy, có khối lượng 0,18 gam, trích rút toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu là T1.

- Kết luận giám định số: 524/KL-KTHS ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: ‘‘Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine và Heroine có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là T1 = 0,18 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định’’.

- Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Duy T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với khối lượng ma túy thu giữ và lời khai của anh Đào Quang H, sinh năm 1991, trú tại: Tiểu khu 16, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La (Nay là Tiểu khu 16, xã M, tỉnh Sơn La), là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Lê Duy T; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.

Với các căn cứ chứng minh nêu trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Duy T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La truy tố đối với bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Lê Duy T thực hiện hành vi phạm tội với khối lượng ma túy tàng trữ trái phép là 0,18 gam Methamphetamine và Heroine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “… Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này…” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo Lê Duy T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 25/01/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 42 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Duy T thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt áp dụng: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lê Duy T phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng có nhân thân xấu, vì vậy cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đảm bảo biện pháp giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo Lê Duy T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự “...người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo Lê Duy T không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 01 (Một) phong bì thư màu trắng đã được niêm phòng bằng giấy niêm phong số 00437377 do Công an tỉnh Sơn La phát hành, một mặt ghi: ‘‘CÔNG AN TỈNH SƠN LA PHONG BÌ NIÊM PHONG, Vật chứng vụ: Lê Duy T - Tàng trữ trái phép chất ma túy, niêm phong hồi 17 giờ 20 phút ngày 29/4/2025 tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La. Bên trong gồm có: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu + 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng + 01 mảnh giấy màu trắng có in dòng chữ màu đen + 01 vỏ ni lon màu hồng’’. Xét thấy đây là những loại vật chứng liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với và 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA, Wave màu xanh, đen, bạc mang biển kiểm soát 28E1-137 14, số máy JA39E0349790, số khung RLHJA3907HY349756, yên xe bị rách nhiều chỗ, có 01 gương chiếu hậu bên trái, kèm theo 01 chìa khóa. Xét thấy đây là tài sản riêng của bị cáo, bị cáo đã sử dụng chiếc xe này để trực tiếp đi mua và cất giấu ma túy, vì vậy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A78 vỏ màu xám đen, kèm 01 sim, bị trầy xước nhiều chỗ, đã qua sử dụng, cũ, xét thấy đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Lê Duy T, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Lê Duy T, bị cáo khai nhận không biết tên, tuổi, địa chỉ, việc mua bán ma túy diễn ra ở nơi vắng người tại bản 428, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là bản 428, xã M, tỉnh Sơn La), không có ai chứng kiến, ngoài lời khai của bị cáo thì không có nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác, do đó cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ xác minh, điều tra và đề nghị xử lý là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo Lê Duy T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Duy T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lê Duy T 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/4/2025 (Ngày bắt tạm giữ bị cáo).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư màu trắng đã được niêm phòng bằng giấy niêm phong số 00437377 do Công an tỉnh Sơn La phát hành, một mặt ghi: ‘‘CÔNG AN TỈNH SƠN LA PHONG BÌ NIÊM PHONG, Vật chứng vụ: Lê Duy T - Tàng trữ trái phép chất ma túy, niêm phong hồi 17 giờ 20 phút ngày 29/4/2025 tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La. Bên trong gồm có: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu + 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng + 01 mảnh giấy màu trắng có in dòng chữ màu đen + 01 vỏ ni lon màu hồng’’.

Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA, Wave màu xanh, đen, bạc mang biển kiểm soát 28E1-137 14, số máy JA39E0349790, số khung RLHJA3907HY349756, yên xe bị rách nhiều chỗ, có 01 gương chiếu hậu bên trái, kèm theo 01 chìa khóa.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A78 vỏ màu xám đen, kèm 01 sim, bị trầy xước nhiều chỗ, đã qua sử dụng, cũ.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 05/BB-CCTHADS, ngày 19/8/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Duy T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 28/8/2025). [Nơi nhận:

Cỡ chữ