vanban.org

Bản án 07/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 15/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo An Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo An Văn D 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "An Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày 05-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Bà Lường Thị Khuyển

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La tham gia phiên toà: Ông Giàng A Mơ – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 21/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 22/10/2025 đối với:

- Bị cáo: An Văn D; tên gọi khác: không, sinh năm 1978 tại xã CS, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản HH, xã CS, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: An Văn B, đã chết và bà Phạm Thị H, đã chết; có vợ là Hà Thị Ph, sinh năm 1989 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: có 01 tiền án (Tại bản án số 01/2022/HSST ngày 26/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 13/11/2023, chưa xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân:

Tại Quyết định số 36/QĐ-TA ngày 26/02/2018 Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc với thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 19/7/2019 (đã xóa tiền sự);

Tại Bản án số 119/2012/HSST ngày 18/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 29/4/2014 (đã xóa tiền án);

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2025 cho đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 15/7/2025, tại khu vực bản Nà Lốc, xã CS, tỉnh Sơn La tổ công tác Công an xã CS, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ, phát hiện, bắt quả tang An Văn D có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng và màu hồng (Dũng khai nhận là Heroin và Hồng phiến).

Ngày 15/7/2025 tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng, kết quả cân tịnh: chất bột liên kết màu trắng và màu hồng có khối lượng 0,07 gam, trích toàn bộ 0,07 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu D.

Kết luận giám định số 802/KL-KTHS ngày 18/7/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: "Mẫu ký hiệu D gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine và Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,07 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,07 gam; loại Methamphetamine và Heroine".

Quá trình điều tra và tại phiên tòa An Văn D khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 08 giờ ngày 15/7/2025, Dũng đi bộ một mình từ bản Hải Hưng, xã CS, tỉnh Sơn La, mang theo 50.000 đồng (tiền do lao động tiết kiệm mà có) đến bản Nà Sèo, xã Nậm Ty, tỉnh Sơn La để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đi bộ trên khu đồi nương thuộc bản Nà Sèo, Dũng gặp, hỏi và mua được của một người đàn ông người dân tộc Mông không quen biết 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa ma túy với giá 50.000 đồng. Sau khi nhận gói ma tuý Dũng cất ở túi áo ngực đằng trước sau đó đi bộ về nhà, đi được một đoạn thì bị cáo rẽ vào ven đường, trích một phần ma tuý vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, số ma túy còn lại bị cáo gói như cũ rồi cất vào túi áo ngực trái và tiếp tục đi về nhà. Khi đến đoạn cầu Nà Lốc, xã CS thì bị tổ công tác Công an xã CS bắt quả tang và tạm giữ người và thu giữ vật chứng.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKS ngày 21/10/2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La đã truy tố bị cáo An Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo An Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo An Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo An Văn D từ 03 năm 04 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh.

Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với phần luận tội của kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, không thay đổi, bổ sung nội dung gì, hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 15/7/2025; Kết luận giám định số 802/KL-KTHS ngày 18/7/ 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.

Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo An Văn D đã bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La kết án 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 Bộ luật Hình sự, chưa xóa án tích (theo Bản án số 01/2022/HSST ngày 26/10/2022 và Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số 14325/GCN-TGYH ngày 13/11/2023 của Trại giam Yên Hạ). Ngày 15/7/2025 tại khu vực bản Nà Lốc, xã CS, tỉnh Sơn La, bị cáo tiếp tục có hành vi cất giấu trái phép 0,07 gam Heroine và Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo An Văn D đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là chất Nhà nước cấm mua bán, sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng thuộc trường hợp có nhân thân xấu, đã 01 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; 02 lần bị kết án về tội phạm ma túy. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn từ 03 năm đến 05 năm tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiệm ma túy, không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên không áp dụng.

Vật chứng vụ án: Đối với 01 mảnh nilon màu xanh là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các vấn đề khác

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án: Bị cáo khai là mua được từ một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại khu vực bản Nà Sèo, xã Nậm Ty, tỉnh Sơn La vào ngày 15/7/2025. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ để mở rộng điều tra, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma tuý đã thu giữ trong vụ án.

Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy: Ngày 15/7/2025, Công an xã CS đã tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của An Văn D. Kết quả dương tính với chất ma túy. Tại phiếu cung cấp thông tin ngày 15/7/2025, UBND xã CS, tỉnh Sơn La đã xác định An Văn D không thuộc các trường hợp chủ thể quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Do đó cơ quan điều tra không khởi tố bị cáo về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa xin miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo An Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo An Văn D 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/7/2025.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh.

(Mô tả chi tiết theo Quyết định chuyển vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La; biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra công an tỉnh Sơn La và Phòng thi hành án dân sự khu vực 03 - Sơn La).

2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05 tháng 11 năm 2025).

Cỡ chữ