vanban.org

Bản án 07/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 12/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Quàng Ng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Quàng Ng 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 4 năm 2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS - ST
Ngày 12 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Sơn La

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Điệp

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cường; bà Cầm Thị Tươi.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam khu vực Sông Mã – Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La.

- Kiểm sát viên: Ông Lầu Bá Khải.

- Người tham gia tố tụng khác:

Cán bộ, chiến sĩ thuộc cơ sở phân trại tạm giam khu vực Sông Mã: Đồng chí Trần Mạnh Chiến và đồng chí Vũ Quang Trung.

Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La và điểm cầu thành phần phân trại tạm giam khu vực Sông Mã xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:

Quàng Ng, sinh năm 1985 tại Sông Mã, Sơn La; nơi cư trú: Bản M, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La nay là bản M, xã S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng T và bà Lường C; bị cáo có vợ là Lò T và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2025 đến nay. Tham gia phiên toà tại điểm cầu thành phần. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 23/4/2025 tại điểm vệ tinh Sông Mã, Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra Buồng điều trị số 02, yêu cầu ai có đồ vật vi phạm pháp luật tự giác giao nộp, Quàng Ng đã tự giác giao nộp 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột liên kết màu trắng (Nghĩa khai nhận là Heroine). Cơ sở điều trị nghiện ma tuý phối hợp với Phòng PC04 Công an tỉnh Sơn La tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nghĩa và và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 23/4/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong cân tịch, trích mẫu giám định, niêm phong mẫu giám định và vật chứng, kết quả: Cân tách bì chất bột màu trắng trong gói nilon màu hồng được tổng khối lượng 0,11gam trích hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu N.

Tại kết luận giám định số: 497/KL-KTHS ngày 25/4/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu N gửi giám định là ma tuý; Loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11gam.

Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,11 gam loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.”

Quá trình điều tra và tại phiên toà Quàng Ng khai nhận:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 22/4/2025, Quàng Ng mang theo số tiền 150.000 đồng (là tiền do lao động tiết kiệm mà có) đi bộ từ nhà đến bản Ten Ư, xã Chiềng Sơ, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La ( nay là bản Ten Ư, xã Chiềng Sơ, tỉnh Sơn La) để tìm mua ma tuý sử dụng, tại đây Nghĩa gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết hỏi mua được của người ngày 04 viên Hồng phiến và một ít Heroine với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý Nghĩa bỏ ra một ít Heroine cùng 04 viên Hồng phiến sử dụng ngay, số ma tuý còn lại Nghĩa gói lại vào mảnh nilon màu hồng rồi đi về, đến cuối bản Ten Ư thì gặp tổ Công tác Công an xã Chiềng Sơ nên Nghĩa đã nuốt luôn gói ma tuý đang cầm trên tay vào bụng, quá trình làm việc Nghĩa thừa nhận có sử dụng ma tuý nên đã được đưa đến Điểm vệ tinh Sông Mã thuộc Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Sơn La để xác định tình trạng nghiện, tại đây khi đi vệ sinh gói ma tuý ra nên Nghĩa đã nhặt và rửa sạch cất giấu trong người sau đó bị phát hiện bắt quả tang.

Bản cáo trạng số: 10/CT-VKS –KV3 ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 đã truy tố bị cáo Quàng Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 giữ nguyên quan điểm truy tố Quàng Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố Quàng Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Quàng Ng từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan, Người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

Về tài liệu, chứng cứ xác định tội danh và pháp luật áp dụng:

Về tài liệu, chứng cứ xác định tội danh

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 14 giờ 00 phút ngày 23/4/2025 đối với Quàng Ng cùng với vật chứng bị thu giữ; Kết luận giám định số 497/KL-KTHS ngày 25/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận “Mẫu gửi giám định N là ma tuý, loại loại Heroine… Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,11 gam loại Heroine”.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố. Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Quàng Ng đã có hành vi cất giấu trái phép 0,11 gam ma tuý loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân là đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về pháp luật áp dụng:

Kể từ ngày 01/7/2025 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự có hiệu lực thi hành, tuy nhiên xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo sảy ra trước 00 giờ ngày 01/7/2025 mặt khác các quy định sửa đổi bổ sung Điều 249 của Bộ luật hình sự theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung có hinh phạt cao hơn hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là không có lợi cho bị cáo. Do vậy, không áp dụng quy định của Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự để xét xử đối với bị cáo.

Do vậy , Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 truy tố và Toà án nhân dân khu vực 3 – Sơn La xét xử đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) có mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian và quyết định một hình phạt tương xứng để đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: 01 phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc mở bên trong có 01 mảnh nilon màu hồng đã được lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với người dân tộc Mông bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được đối tượng cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để mở rộng làm rõ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuy nhiên, bị cáo là dân tộc thiểu số sống vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên toà bị cáo xin được miễn án phí, do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Quàng Ng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Quàng Ng 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 4 năm 2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Ng.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/8/2025)./.

Cỡ chữ