vanban.org

Bản án 07/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 13 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 12/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 32 (Ba mươi hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án hôm nay (12/8/2025). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Ya Hội, tỉnh G giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Sâm Vi phạm an toàn giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13-G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày: 12-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Long Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thảo và bà Trần Thị Kia.

- Thư ký phiên tòa: Phạm Hồng Huy - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Khu vực 13-G tham gia phiên tòa: Bà Mạc Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13-G, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2025/HSST-QĐ ngày 29/7/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/10/1982 tại Tây Sơn, Bình Định. Căn cước công dân số 052082009262. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Thợ cửa sắt. Nơi cư trú: Thôn An Hòa, xã Phú An, huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai. Chỗ ở hiện nay: Thôn An Hòa, xã Ya Hội, tỉnh G. Cha: Nguyễn Đ(chết), Mẹ: Lê Thị Ch(sinh năm 1947), làm nông và cư trú tại thôn Phú Xuân, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (cũ). Gia đình bị cáo có 8 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy. Vợ: Lê Thị Như H, sinh năm 1986, làm nông ở thôn An Hòa, xã Phú An, huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai nay là: Thôn An Hòa, xã Ya Hội, tỉnh G. Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014.

- Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Phạm Văn L, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn An Phú, xã Ya Hội, tỉnh G (địa chỉ cũ thôn An Phú, xã Phú An, huyện Đak Pơ, tỉnh G). Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Nguyễn Thị H, sinh năm 1969 (vợ ông L); địa chỉ: Thôn An Phú, xã Ya Hội, tỉnh G. (địa chỉ cũ thôn An Phú, xã Phú An, huyện Đak Pơ, tỉnh G). Có mặt.

2. Nguyễn Thụ, sinh năm 1964; địa chỉ: Phường Ba Ngòi, tỉnh Khánh Hòa. (địa chỉ cũ tổ Tây Sơn, phường Ba Ngòi, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa). Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Đào Duy Th, sinh năm 1997; địa chỉ: Phường An Bình, tỉnh G (địa chỉ cũ Tổ 7, phường An Bình, thị xã A, tỉnh G). Vắng mặt.

2. Nguyễn H, sinh năm 1972; địa chỉ: Phường An Khê, tỉnh G (địa chỉ cũ Tổ 6, phường Tây Sơn, thị xã A, tỉnh G). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/10/2024, Nguyễn Văn S đi làm cửa sắt cho anh Đoà Duy Th. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, sau khi làm xong, S được anh Thịnh mời đi ăn cháo bò và cả hai uống hết khoảng 700ml rượu. Khoảng gần 18 giờ 15 phút cùng ngày, sau khi nhậu xong S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81F1-044.36 đi về nhà. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/10/2024, Nguyễn Văn S đi mua một thùng bia để mang đi đám giỗ nên tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81F1-044.36 lưu thông trên đường Hoàng Văn Thụ theo hướng huyện Đak Pơ đi thị xã A. Khi đến đoạn đường trước nhà số 210 Hoàng Văn Thụ thuộc Tổ 6, phường Tây Sơn, thị xã A, tỉnh G, Nguyễn Văn S quan sát thấy ông Phạm Văn L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79K7-6352 không có đèn chiếu sáng, ông L có đội đèn pin trên đầu lưu thông ngược chiều ở lề đường phải đang chuyển làn sang trái theo hướng đi của S và cách xe mô tô 81F1-044.36 do S điều khiển khoảng 20m. Nguyễn Văn S không giảm tốc độ, không tránh né về bên phải theo hướng đi mà vẫn tiếp tục lấn sang phần đường bên trái. Khi xe mô tô biển kiểm soát 79K7-6352 do ông Phạm Văn L điều khiển đã sang đến phần đường bên trái theo hướng Đak Pơ đi An Khê. Lúc này do khoảng cách gần nên Nguyễn Văn S không kịp xử lý dẫn đến phần bánh xe trước của xe mô tô 81F1-044.36 do S điều khiển đã va chạm vào xe mô tô 79K7-6352 do ông L điều khiển làm xe mô tô và ông L ngã xuống đường bị thương được cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định đến ngày 26/11/2024 xuất viện.

Tại biên bản về việc kiểm tra nồng độ cồn vào lúc 19 giờ 35 phút ngày 19/10/2024, Công an thị xã A tiến hành đo trực tiếp trong hơi thở của Nguyễn Văn S có nồng độ cồn 0,851 mg/l khí thở.

Tại biên bản về việc kiểm tra nồng độ cồn vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 19/10/2024, Công an thị xã A tiến hành đo trực tiếp trong hơi thở của Phạm Văn L có nồng độ cồn 0,689 mg/l khí thở.

Sau khi tai nạn xảy ra các cơ quan chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định:

- Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng trước nhà số 210 Hoàng Văn Thụ, tổ 6, phường Tây Sơn, thị xã A, G. Đường Hoàng Văn Thụ được đổ nhựa cứng, bằng phẳng rộng 11,6m áp dụng cho phương tiện lưu thông hai chiều được phân chia bằng vạch sơn kẻ đường màu vàng đứt quãng. Chiều đường hướng huyện Đak Pơ đi thị xã A rộng 6,15m gồm hai làn đường được phân chia bằng vạch sơn kẻ đường màu trắng đứt quãng, làn đường trong cùng rộng 2,50m.

- Chọn chiều hướng khám nghiệm hiện trường theo hướng huyện Đak Pơ đi thị xã A. Chọn mép đường bên phải đường Hoàng Văn Thụ theo chiều hướng khám nghiệm hiện trường làm chuẩn.Chọn trụ điện số 472AKH/125/13/8 làm điểm mốc.

(1) Xe mô tô 81F1-044.36 đứng yên trên đường, đầu xe quay hướng thị xã A, đuôi xe quay hướng huyện Đak Pơ. Đo từ tâm trục bánh trước đến mép đường là 5,25m. Đo từ tâm trục bánh sau đến mép đường là 5,50m, đến điểm mốc là 10,00m.

(2) Vùng mảnh vỡ nhựa + kim loại diện (18x18)cm. Đo từ tâm vết đến mép đường là 5,80m, đến tâm vạch kẻ đường màu vàng đứt quãng phân chia đường Hoàng Văn Thụ làm hai chiều là 0,35m đến tâm trục bánh trước (1) là 0,55m. Tại vùng mảnh vỡ nhựa + kim loại này phát hiện 01 mảnh vỡ kim loại diện (9x18)cm; 01 mảnh vỡ nhựa diện (13x7)cm, từ dè chắn bùn của xe mô tô 81F1-044.36 và một vài mảnh vỡ nhựa của đèn chiếu sáng phía trước xe mô tô 81F1-044.36

(3) Xe mô tô 79K7-6352 nằm ngã nghiêng sang phải, đầu xe quay hướng vào lề đường bên phải đường Hoàng Văn Thụ hướng huyện Đak Pơ đi thị xã A. Đuôi xe quay hướng vào lề đường bên trái đường Hoàng Văn Thụ hướng huyện Đak Pơ đi thị xã A. Đo từ tâm trục bánh trước đến mép đường là 5,90m. Đo từ tâm trục bánh sau đến mép đường là 7,10m, đến tâm trục bánh sau của (1) là 2,20m, đến điểm mốc là 9,40m.

(4) Vết cày dài 0,30m chiều hướng từ lề đường bên phải sang lề đường bên trái đường Hoàng Văn Thụ hướng huyện Đak Pơ đi thị xã A. Đuôi vết cày kết thúc tại vị trí gác để chân phía trước bên phải (3) với mặt đường. Đo từ đầu vết đến mép đường là 6,30m. Đo từ đuôi vết đến mép đường là 6,60m.

(5) Vết màu nâu dạng máu diện (1,40x0,50)m. Đo từ vị trí gần nhất đến mép đường là 6,30m. Đo từ vị trí xa nhất đến mép đường là 7,60m. Đo từ tâm vết đến tâm trục bánh sau của (3) là 1,10m.

(6) Đèn pin mini đang bật sáng nằm trên đường diện (10x7)cm. Vỏ màu đen có dây đeo, phía đầu gần bóng đèn có bọc một lớp nhựa màu vàng. Trên thân đèn có ghi dòng chữ CYX A4-30W. Đo từ tâm vết đến mép đường là 7,00m, đến tâm vết (5) là 0,50m.

(7) Mũ bảo hiểm màu đen diện (30x20)cm nằm lật ngửa trên đường. Đo từ tâm vết đến mép đường là 10,70m, đến tâm trục bánh sau của vết (3) là 3,70m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông:

* Xe mô tô 81F1-044.36: Ốp nhựa đèn chiếu sáng phía trước bể vỡ hoàn toàn. Vành bánh xe phía trước có vết cong đẩy từ ngoài vào trong dài 10cm, hở 2cm với vị trí tiếp xúc lốp xe. Vị trí gần nhất cách mép chữ N (chữ N thứ 2 trong chữ NYLON trên lốp xe là 7,5cm). Phía sau dè chắn bùn phía trước có vết bể vỡ nhựa diện (13x7)cm.

* Xe mô tô 79K7-6352: Gương chiếu hậu bên trái có vết nứt vỡ, quay lệch một góc 75o so với vị trí ban đầu. Hộp đèn chiếu sáng phía trước bung hở 3cm so với vị trí ban đầu. Dè chắn bùn phía trước vết bể vỡ nhựa diện (18x8)cm. Ốp kim loại bảo vệ hộp số có vết vỡ kim loại diện (18x9)cm. Mặt ngoài gác để chân phía trước bên phải có vết mài mòn kim loại diện (1,5x1,0)cm.

Tại Bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 585/KLTTCT-TTPY ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Trung tâm pháp y tỉnh G đối với Phạm Văn L kết luận:

- Các kết quả chính:

+ 01 (một) sẹo mổ nằm dọc vùng đỉnh trước bên phải.

+ Chấn thương sọ não gây tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh hai bên tại thời điểm giám định còn hình ảnh tụ máu trên phim CT Scanner.

+ Chấn thương sọ não gây tụ máu khoang dưới nhện vùng thái dương, đỉnh, trán, đỉnh trái tại thời điểm giám định không còn hình ảnh tụ máu trên phim CT Scanner.

+ Chấn thương sọ não gây vỡ xương thái dương hai bên kích thước 20.5cm, điện não có ổ tổn thương tương ứng.

+ Chấn thương sọ não gây vỡ xương đá trái không để lại di chứng.

+ Chấn thương sọ não gây hậu quả khuyết sọ trán phải kích thước 1,1cm, đáy chắc.

- Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Văn L tại thời điểm giám định là: 68% (Sáu mươi tám phần trăm).

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 01/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã A kết luận về giá trị thiệt hại của tài sản bị hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 79K7-6352 do tai nạn giao thông là: 271.000 đồng (Hai trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).

Tạm giữ đồ vật, tài liệu có liên quan:

- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 81F1-044.36(Đã qua sử dụng)

- 01 (một) chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 001453, biển kiểm soát 81F1-044.36, mang tên Nguyễn Văn S.

- 01 (một) giấy phép lái xe số N474091, hạng A1, mang tên Nguyễn Văn S do Sở Giao thông vận tải Bình Định cấp ngày 05/9/2003.

- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 79K7-6352 (Đã qua sử dụng)

Xử lý đồ vật, tài liệu, vật chứng có liên quan: Quá trình điều tra xác định ngày 23/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô 81F1-044.36 và giấy tờ liên quan cho Nguyễn Văn S; trả lại xe mô tô 79K7-6352 cho ông Phạm Văn L.

Về dân sự: Quá trình điều tra, Phạm Văn L yêu cầu Nguyễn Văn S bồi thường số tiền 202.437.000 đồng (Hai trăm lẻ hai triệu bốn trăm ba mươi bảy ngàn đồng) bao gồm: chi phí điều trị, bồi thường tổn thất tinh thần, công lao động bị thiệt hại, công lao động của người chăm sóc, tiền xe, bồi thường xe máy bị hư hỏng . Nguyễn Văn S đã bồi thường số tiền 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm ngàn đồng). Ông L tiếp tục yêu cầu S bồi thường 191.937.000 đồng (Một trăm chín mươi mốt triệu chín trăm ba mươi bảy ngàn đồng).

Ngày 28/7/2025, Bị cáo và bị hại (ông L), vợ bị hại (bà Hòa) thỏa thuận về việc bồi thường, theo văn bản thỏa thuận tổng số tiền yêu cầu bị cáo S bồi thường là 64.500.000đ. Bị cáo đã bồi thường 10.500.000đ và bồi thường thêm 54.000.000đ nữa. Như vậy phần dân sự hai bên đã thỏa thuận giải quyết xong.

Tại Bản cáo trạng số: 28/CT-VKS ngày 05/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Khu vực 13-G giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 03 năm đến 3 năm 06 tháng tù.

Về dân sự: Hai bên đã bồi thường xong, bị hại Nguyễn Văn Lắm và đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị H (vợ của ông L) đã có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập.

Đề nghị trả lại cho bị cáo S 01 Giấy phép lái xe mô tô mang tên Nguyễn Văn S.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn S thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đại diện viện kiểm sát kết luận, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và xin được hưởng án treo, để bị cáo có điều kiện nuôi dưỡng 02 con còn nhỏ, vì bị cáo là lao động chính trong gia đình.

Bị hại tại phiên tòa hôm nay có đơn xin xét xử vắng mặt, trong quá trình giải quyết đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, trong đơn xin xét xử vắng mặt cũng cho biết bị cáo đã bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm và cũng yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người có quyền lợi liên quan bà Nguyễn Thị H (vợ ông L) tại phiên tòa hôm nay cũng thừa nhận là ông L cũng có một phần lỗi là: có uống rượu khi lái xe, khi sang đường ông L không bật xi nhan xin đường do xe bị hư đèn, chỉ đội đèn pin đội đầu, mũ bảo hiểm có đội nhưng không cài quai; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo cũng đã lo đưa ông L đến bệnh viện cấp cứu, cũng đã thăm hỏi và bồi thường cho gia đình số tiền tính đến nay tổng cộng là 77.000.000đ, gia đình bà Hòa và ông L đã làm đơn bãi nại và cũng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất cho bị cáo, vì gia đình bị cáo cũng khó khăn, bị cáo còn phải nuôi 02 con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Khu vực 13-G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, do đó đã có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Văn S là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số N474091, do Sở Giao thông vận tải Bình Định (cũ) cấp ngày 05/9/2003. Ngày 19/10/2024, sau khi sử dụng rượu có nồng độ cồn 0,851 mg/l khí thở Nguyễn Văn S đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81F1-044.36 tham gia giao thông trên đường Hoàng Văn Thụ theo hướng huyện Đak Pơ đi thị xã A. Khi đến đoạn đường trước nhà số 210 Hoàng Văn Thụ thuộc Tổ 6, phường Tây Sơn, thị xã A (cũ), nay là phường An Khê, tỉnh G. Nguyễn Văn S phát hiện ông Phạm Văn L điều khiển xe mô tô 79K7-6352 lưu thông qua đường từ lề phải sang lề trái theo hướng đi của S nhưng S không giảm tốc độ, không tránh né về bên phải dẫn đến xe mô tô 81F1-044.36 va chạm với xe mô tô 79K7-6352. Hậu quả: Ông Phạm Văn L bị thương được cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định đến ngày 26/11/2024 xuất viện với tỷ lệ tổn thương cơ thể 68%, xe mô tô biển kiểm soát 79K7-6352 bị hư hỏng thiệt hại 271.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị can Nguyễn Văn S là vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, điều khiển xe mà trong hơi thở có nồng độ cồn, không chú ý quan sát, vi phạm vào khoản 2, Điều 9; khoản 1, Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ 2024, gây hậu quả làm 01 người bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 68%, nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của bị hại và bị hại đã có đơn xin bãi nại, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS; Mặt khác, trong tai nạn này ông L cũng có một phần lỗi khi sang đường không báo hiệu xin đường (bật đèn xi nhan); lái xe trong tình trạng có sử dụng rượu bia; sang đường thiếu quan sát, có xe ngược chiều đi đến gần (khoảng cách chỉ 20m) không đảm bảo an toàn nhưng vẫn sang đường; đèn xe không hoạt động (chỉ sử dụng đèn pin đội đầu để làm đèn chiếu sáng) dẫn đến khó khăn cho bị cáo phán đoán hướng đi của ông L, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tai nạn. Bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đang nuôi dưỡng 02 con nhỏ, do vậy Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp lỗi vô ý.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy rằng: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm tổn thướng sức khỏe của ông L 68%. Nhưng bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp lỗi vô ý. Trong vụ án này bị cáo có đến 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 của BLHS và 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS như đã phân tích nêu trên; Nên cần áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự hình sự áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng dưới khung hình phạt ở khoản 2 Điều 260 BLHS cho bị cáo, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra; Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng giáo dục, không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, nên cần áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, có thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về dân sự: Hai bên đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý tài liệu và vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) giấy phép lái xe số N474091, hạng A1, mang tên Nguyễn Văn S do Sở Giao thông vận tải Bình Định cấp ngày 05/9/2003.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268 (đã được sửa đổi, bổ sung tại mục 31 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15); khoản 1 Điều 299; Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 21; Điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 32 (Ba mươi hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án hôm nay (12/8/2025). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Ya Hội, tỉnh G giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ của người hưởng án treo từ 02 lần trở lên theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự thì có thể bị Tòa án quyết định buộc chấp hành hình phạt tù theo bản án đã tuyên cho người đó hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S: 01 (một) giấy phép lái xe số N474091, hạng A1, mang tên Nguyễn Văn S do Sở Giao thông vận tải Bình Định cấp ngày 05/9/2003.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Văn S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (12/8/2025), bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử theo trình tự phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo nêu trên đối với bị hại được tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ