vanban.org

Bản án 07/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 20/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tô Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vậy chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy; 01 (một) phong bì niêm phong số 35/KL-KTHS mặt trước ghi “Hoàn lại mẫu sau giám định vụ Tô Tuấn A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Tuấn A điểm c khoản 1 Điều 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tô Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LẠC
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày 20/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC-TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Viết Lưu .

Ông Nông Văn Nghiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Phương Thảo-Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mạc Thị Thời-Kiểm sát viên.

Ngày 20/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Tô Tuấn A. tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 15/08/1989, tại: Thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; con ông Tô Quang T, sinh năm 1957 và bà Hà Thị X, sinh năm 1962; có Vợ: Lương Thị H, sinh năm 1989 (đã ly hôn); con có 01 con; tiền sự, tiền án: không; nhân thân: Tại quyết định xử phạt số 13/QĐ-XPHC ngày 24/5/20219 Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác”; tại bản án số 47/2019/HSST ngày 28/11/2019 Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc đã xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (đã được đương nhiên xóa án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B (hiện nay là Phân trại tạm giam khu vực B, Trại tạm giam Công an tỉnh C) từ ngày 18/12/2024 đến nay. (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút ngày 18/12/2024, tổ công tác Công an huyện B thực hiện nhiệm vụ tại khu vực Tổ dân phố E, thị trấn B, B, Cao Bằng phát hiện một người đàn ông đứng ở khu vực vắng người thuộc Tổ dân phố E, thị trấn B có nhiều biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra xác định là Tô Tuấn A, sinh năm 1989, trú tại Tổ dân phố F, thị trấn B, B, Cao Bằng. Kiểm tra người Tô Tuấn A phát hiện tại túi áo khoác bên trong bên trái của Tuấn A đang mặc 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là (heroine). Tổ công tác tiên hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong số vật chứng theo đúng quy định pháp luật và đưa Tô Tuấn A về trụ sở để tiếp tục xác minh, làm rõ. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tuấn A tại Tổ dân phố F, thị trấn B, B, Cao Bằng nhưng không phát hiện, thu giữ, tạm giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.

Ngày 18/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Tô Tuấn A. Kết quả: Số chất bột màu trắng thu giữ của Tuấn A có khối lượng là 0,13 gam (Không phẩy mười ba gam).

Tại Kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng K, Công an tỉnh C kết luận số chất bột màu trắng thu giữ của Tô Tuấn A là ma túy, loại Heroine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, bị cáo Tô Tuấn A khai nhận: Số chất bột màu trắng Cơ quan điều tra thu giữ thu giữ qua bắt quả tang là heroine của bị cáo. Trưa ngày 18/12/2024 bị cáo đi bộ từ nhà xuống ngã 3 cuối chợ thị trấn B (thuộc tổ dân phố C, thị trấn B) gặp một người đàn ông không quen biết, có đặc điểm giống người nghiện nên hỏi mua ma túy với người đàn ông này 01 gói nhỏ ma túy với số tiền 300.000 đồng. Mua được ma túy đang trên đường đi để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang. Mục đích mua số ma túy là để sử dụng cho bản thân ngoài ra không có mục đích khác.

Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận về hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại cáo trạng số 12/CT-VKSBL ngày 27/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc đã truy tố bị cáo Tô Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Tô Tuấn A thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy thu giữ và nội dung bản kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngay 25/12/2024 của Phòng K- Công an tỉnh C.

- Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Tô Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo Tô Tuấn A từ 15 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 35/KL-KTHS mặt trước ghi “Hoàn lại mẫu sau giám định vụ Tô Tuấn A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy”; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Tô Tuấn A không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt để sớm quay trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tô Tuấn A đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tọi của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, vật chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 18/12/2024, Tô Tuấn A đi bộ xuống ngã 3 cuối chợ thị trấn B thuộc tổ dân phố C, thị trấn B mua với một người đàn ông không quen biết 01 gói nhỏ ma túy với số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng). Đang trên đường đi sử dụng thì bị Cơ quan điều tra phát hiện thu giữ 0,13gam Heroine. Mục đích để sử dụng cho bản thân.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Số ma túy bị cáo tàng trữ là 0,13 gam loại Heroine nên đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đây cùng là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác.

Xét, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Đã bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác” tại quyết định số 13/QĐ-XPHC ngày 24/5/20219; bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc đã xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 47/2019/HSST ngày 28/11/2019. (đã được đương nhiên xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự).

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

- Về hình phạt chính:

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B đề nghị mức án đối với bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng. Bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, tàng trữ 0,13 gam ma túy, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, đã từng bị tuyên án phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học để rút kinh nghiệm mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó cần thiết buộc phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mội thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ theo quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận.

- Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo không giữ chức vụ gì trong đảng, chính quyền, các đoàn thể, nghề nghiệp của bị cáo trước khi phạm tội là lao động tự do, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là ma túy thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành nên cần xử lý tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Tô Tuấn A, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh mở rộng vụ án.

[7] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Tô Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tô Tuấn A 16 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2024.

2. Về xử lý vậy chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy; 01 (một) phong bì niêm phong số 35/KL-KTHS mặt trước ghi “Hoàn lại mẫu sau giám định vụ Tô Tuấn A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Chi Cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Cao Bằng tại Biên bản giao nhận vật chứng số 21 ngày 21 tháng 02 năm 2025.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Tô Tuấn A phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự để sung ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ