- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc C điểm b, khoản 1 Điều 244 BLHS - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/HS-PT Ngày: 20 - 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Triết
Các Thẩm phán:
Ông Trịnh Văn Toàn
Ông Y Thông Kbuôr
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 268/2024/TLPT-HS ngày 10/12/2024 đối với bị cáo Trần Quốc Cường về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trần Quốc C, sinh ngày 26/5/1994, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 7/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Quốc P và con bà: Lê Thị K; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thùy T và 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 22/5/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 08 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tại Bản án số 177/2014/HSPT (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2021, Trần Quốc C mở quán N, lấy tên là TaTo quán, tại thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Trần Quốc C đứng tên chủ hộ kinh doanh. Quán nhậu của C có kinh doanh các loại thịt động vật, hải sản, rau củ quả và nước giải khát nên hàng ngày có thu mua một số loại động vật rừng để bán cho khách hàng.
Vào đầu năm 2023 (không nhớ ngày tháng cụ thể), khi C đang ở quán của mình thì có 01 người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đi xe máy cày đến, người đàn ông nói có 01 con rắn hổ chúa muốn bán cho C, C hỏi còn sống hay đã chết thì người đàn ông nói đã chết và bán với số tiền 1.000.000 đồng, C nói chết thì mua với giá là 950.000 đồng thì người đàn ông đồng ý. Sau khi mua được con rắn hổ chúa thì C làm sạch sẽ rồi bỏ con rắn hổ chúa vào bình thủy tinh đổ rượu vào ngâm, mục đích để trưng bày tại quán và khi cần thì sử dụng cho cá nhân.
Ngoài ra vào khoảng đầu tháng 4 năm 2024, ông Hồ Đăng V trong quá trình đi tưới nước ở rẫy thì phát hiện có 01 con rắn ráo trâu nên đã giết chết, V mang con rắn ráo trâu đến cho anh C để đổi rắn lấy thức ăn về nhậu. Sau đó cũng vào đầu năm 2024, ông Trần Quốc P (bố của C) khi đi tưới nước ở rẫy đã giết chết 01 con rắn sọc dưa mang đến cho C để làm mồi nhậu bán cho khách.
Ngày 08/5/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy phối hợp với Hạt kiểm lâm K1 - Buôn Hồ và Công an xã E, huyện K tiến hành kiểm tra tại quán N1. Đoàn kiểm tra đã phát hiện, thu giữ 01 cá thể rắn (đã chết) được ngâm bằng dung dịch màu vàng nhạt chứa trong bình thủy tinh; 02 bộ phận cá thể rắn (đã chết), có tổng trọng lượng 2,8kg bỏ trong tủ lạnh. C khai nhận hành vi tàng trữ cá thể rắn hổ chúa (đã chết) C ngâm vào rượu là để trưng bày và sử dụng cho cá nhân; đối với 02 cá thể rắn (rắn ráo trâu và rắn sọc dưa) C bỏ vào tủ lạnh khi khách có nhu cầu thì làm mồi nhậu cho khách.
Tại bản kết luận giám định số 937/ STTNSV ngày 12/6/2024 của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật của V1 kết luận:
- Xác định tên loài động vật:
+ 01 (một) cá thể động vật được đánh số 1 trong bản ảnh gửi giám định là loài Rắn hổ chúa có tên khoa học là O hannah, thuộc lớp Bò sát (Reptilia).
+ 01 (một) cá thể động vật được đánh số 2 trong bản ảnh gửi giám định là loài Rắn ráo trâu có tên khoa học là P1 mucosus, thuộc lớp Bò sát (Reptilia).
+ 01 (một) cá thể động vật được đánh số 3 trong bản ảnh gửi giám định là loài Rắn sọc dưa có tên khoa học là C1 radiatus, thuộc lớp Bò sát (Reptilia).
- Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật:
+ Loài Rắn hổ chúa có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
+ Loài Rắn hổ chúa có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
+ Loài Rắn ráo trâu có tên trong Nhóm IIB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
+ Loài rắn sọc dưa không có tên trong danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP.
Tại kết luận định giá tài sản số 11a/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện K kết luận:
+ 01 cá thể Rắn hổ chúa (đã chết) được ngâm bằng dung dịch màu vàng nhạt chứa trong bình thủy tinh, không có căn cứ định giá.
+ 01 cá thể Rắn hổ trâu (đã chết), có trọng lượng 2,3 kg (đông lạnh) có giá trị 644.000 đồng.
+ 01 cá thể Rắn sọc dưa (đã chết), có trọng lượng 0,5kg (đông lạnh) có giá trị 80.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc C phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Quốc C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/11/2024, bị cáo Trần Quốc C có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Quốc C giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc C, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc C 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bị cáo không tranh luận và tại nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo Trần Quốc C tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các đối tượng tham gia trong vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào đầu năm 2023, bị cáo Trần Quốc C đã có hành vi mua 01 cá thể rắn hổ chúa của một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) về ngâm với rượu để trưng bày và sử dụng cho cá nhân; đến ngày 08/5/2024 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Hạt kiểm lâm Krông Năng B - Hồ kiểm tra, phát hiện thu giữ. Qua kết quả giám định xác định loài Rắn hổ chúa có tên khoa học là O hannah, thuộc lớp Bò sát (R), có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ; loài Rắn hổ chúa cũng có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Quốc C về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm b khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đảm bảo đúng người, đúng tội.
Đối với kháng cáo của bị cáo Trần Quốc C, Hội đồng xét xử xét thấy: Mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Tuy nhiên, bị cáo không trực tiếp săn bắt, giết các cá thể rắn hổ chúa, rắn hổ trâu và rắn sọc dưa mà chỉ mua lại xác rắn đã chết để sử dụng khi cần. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo luôn thành khẩn khai báo và tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được UBND xã E xác nhận; bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi con nhỏ và vợ đang mang thai, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đã tích cực tham gia, đóng góp vào nhiều hoạt động xã hội như phong trào chống Covid 19, phòng cháy chữa cháy - cứu nạn cứu hộ,…. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp án phí hình sự sơ thẩm. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm Quyết định số 176/QĐ-BTL ngày 13/02/2019 của Bộ về việc thực hiện chế độ trợ cấp một lần đối với ông Trần Quốc P là bố đẻ của bị cáo thuộc đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình là phù hợp. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần Bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Quốc C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc C:
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt.
[2] Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Quốc C cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Quốc C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV CA tỉnh Đắk Lắk; - VP CQCSĐT CA tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Krông Năng; - VKSND huyện Krông Năng; - Công an huyện Krông Năng; - Chi cục THADS huyện K; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đình Triết |