- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị T - Trần Văn D"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Dương Thị T ly hôn ông Trần Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22-01-2025. V/v tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Huỳnh Hoa;
2. Ông Triệu Láth.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Gia An - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 258/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị T, sinh năm 1965 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: số 308 ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: số 308 ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/11/2024, đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 27/12/2024 nguyên đơn là bà Dương Thị T trình bày:
Bà T và ông D tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1983 nhưng không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống rất yên ổn nhưng sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong lối sống, không hợp nhau về tính cách, bất đồng ý kiến, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà T và ông D không còn sống chung từ năm 2017 đến nay. Qúa trình chung sống, bà T và ông D có 03 người con chung là Trần Văn Trường G (giới tính: nam), sinh ngày 01/01/1985; Trần Thị Kiều C (giới tính: nữ), sinh ngày 01/01/1989 và Trần Văn Linh C1 (giới tính: nam), sinh ngày 18/6/1997. Hiện nay G, C và C1 đã thành niên, có gia đình riêng.
Nay nhận thấy hạnh phúc gia đình tan vỡ, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không thành nên bà Dương Thị Tyêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn D, sinh năm 1965.
- Về con chung: Trần Văn Trường G (giới tính: nam), sinh ngày 01/01/1985; Trần Thị Kiều C (giới tính: nữ), sinh ngày 01/01/1989 và Trần Văn Linh C1 (giới tính: nam), sinh ngày 18/6/1997. Hiện nay G, C và C1 đã thành niên, có gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bà T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà và bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện ngày 08/11/2024.
Đối với bị đơn ông Trần Văn D: Trong quá trình giải quyết vụ án ông không có ý kiến gì và cũng không yêu cầu phản tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Dương Thị T vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Văn D vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông D nhưng ông D không có ý kiến gì nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông D theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà T và ông D tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1983 nhưng không đăng ký kết hôn. Mặc dù, ông bà không đăng ký kết hôn nhưng quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì đây là hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận và bảo vệ. Thời gian đầu chung sống rất yên ổn nhưng sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong lối sống, không hợp nhau về tính cách, bất đồng ý kiến, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà T và ông D không còn sống chung từ năm 2017 đến nay. Ông D biết việc bà Tkhởi kiện nhưng ông không đến Tòa án để tham gia tố tụng. Xét thấy, mối quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ. Bỡi lẽ, theo lời trình bày của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở để xác định cuộc sống vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu ly hôn bị đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung:
Theo lời trình bày của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, giữa nguyên đơn và bị đơn có 03 người con chung là Trần Văn Trường G (giới tính: nam), sinh ngày 01/01/1985; Trần Thị Kiều C (giới tính: nữ), sinh ngày 01/01/1989 và Trần Văn Linh C1 (giới tính: nam), sinh ngày 18/6/1997. Hiện nay G, C và C1 đều đã thành niên, có gia đình riêng. Đồng thời, bà T không có yêu cầu giải quyết về con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Về nợ chung: Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Dương Thị T ly hôn ông Trần Văn D.
[2] Về con chung: Giữa nguyên đơn và bị đơn có 03 người con chung là Trần Văn Trường G (giới tính: nam), sinh ngày 01/01/1985; Trần Thị Kiều C (giới tính: nữ), sinh ngày 01/01/1989 và Trần Văn Linh C1 (giới tính: nam), sinh ngày 18/6/1997. Hiện nay 03 người con chung của bà T và ông D đều đã thành niên, có gia đình riêng. Đồng thời, bà Tkhông có yêu cầu giải quyết về con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Về tài sản chung: Do bà Dương Thị Tkhông yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[4] Về nợ chung: Do bà Dương Thị Tkhông yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng bà Dương Thị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006179 ngày 05/12/2024 của C cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu không nộp thêm. Ông Trần Văn D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Báo cho các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thị xã Vĩnh Châu; - C cục THADS thị xã Vĩnh Châu; - Đương sự; - UBND xã V; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |