- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị N"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ng đối với ông Hà Phước T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08/01/2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN - TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Lương Thị Kim Anh
+ Ông Trần Phi Long
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nhật Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 01 năm 2025 tại Hội trường TAND thị xã Điện Bàn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 233/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15/10/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 332/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 28/11/2024, giữa:
1/Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ng – Sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khối CN, phường ĐA, thị xã Điện Bàn, Quảng Nam.
2/Bị đơn: Ông Hà Phước T – Sinh năm 1989 (vắng mặt) Nơi cư trú cuối cùng: Khối NT, phường ĐA, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Phạm Thị Ng trình bày: Bà Ng và ông T kết hôn vào ngày 09/7/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐA, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, kết hôn trên cơ sở tự nguyện.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không có trách nhiệm với vợ, con và đã bỏ đi biệt tích từ tháng 8/2021 đến nay. Bà Ng đã yêu cầu tuyên bố ông T mất tích theo Quyết định số 08/2024/QĐST-DS ngày 01/8/2024 của TAND thị xã Điện Bàn. Nay bà Ng xét thấy vợ chồng không còn tình cảm nên yêu cầu ly hôn ông T.
Về con chung: có 02 con chung
+ Hà Phước Xuân T - Sinh ngày 08/12/2012
+ Hà Phước Bảo Ng - Sinh ngày 06/5/2016
Hai con sống cùng bà Ng từ nhỏ đến nay, từ khi ông T bỏ nhà ra đi biệt tích hai con vẫn sống cùng bà Ng nên bà Ng yêu cầu nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Hà Phước T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích theo Quyết đinh số 08/2024/QĐST - DS ngày 01/8/2024, nên không có lời khai của ông T đối với các yêu cầu khởi kiện của bà Ng.
Tóm tắt ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử được phân công giải quyết và xét xử vụ án đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên vắng mặt.
+ Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX xử cho bà Ng được ly hôn ông T, giao hai con Hà Phước Xuân T và Hà Phước Bảo Ng cho bà Ng tiếp tục nuôi dưỡng, bà Ng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Ng yêu cầu ly hôn đối với ông T, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Nơi cư trú cuối cùng của ông T tại phường Điện An, thị xã Điện Bàn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Hà Phước T đã mất tích, bà Phạm Thị Ng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[3] Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Ng và ông T kết hôn vào ngày 09/7/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Điện An, thị xã Điện Bàn, Quảng Nam, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Quan hệ hôn nhân giữa bà Ng và ông T là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà Ng khai là do ông T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không lo làm ăn, không có trách nhiệm với vợ, con, vợ chồng không còn tình cảm và đã sống ly thân hơn 3 năm nay. Ông T bỏ địa phương ra đi biệt tích từ tháng 8/2021 đến nay và được Tòa án tuyên bố mất tích theo Quyết định số 08/2024/QĐST-DS ngày 01/8/2024 của TAND thị xã Điện Bàn. Trong trường hợp này xét thấy vợ chồng bà Ng không còn tình cảm, thực tế hai người không chung sống với nhau hơn 3 năm nay, mục đích hôn nhân không đạt, yêu cầu ly hôn của bà Ng có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận cho bà Ng được ly hôn với ông T phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: có 02 con chung
+ Hà Phước Xuân T - Sinh ngày 08/12/2012
+ Hà Phước Bảo Ng - Sinh ngày 06/5/2016
Bà Ng yêu cầu được nuôi 02 con sau khi ly hôn. Xét yêu cầu của bà Ng thấy rằng: 2 con sống cùng bà Ng từ nhỏ đến nay, bà Ng có việc làm và thu nhập ổn định đảm bảo việc nuôi con, mặt khác hiện nay ông T mất tích. Do đó để đảm bảo ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho con, cần phải giao 2 con chung cho bà Ng tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 82, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình. Về khoản cấp dưỡng nuôi con chung, bà Ng không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Sau khi ly hôn, ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung bà Ng không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ Luật phí và Lệ phí, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Điều 147 BLTTDS thì bà Ng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phí và Lệ phí, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ng đối với ông Hà Phước T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
1/Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Ng và ông Hà Phước T
2/Về con chung: Giao 2 con Hà Phước Xuân T - Sinh ngày 08/12/2012 và
Hà Phước Bảo Ng - Sinh ngày 06/5/2016 cho bà Phạm Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phạm Thị Ng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, ông Hà Phước T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
3/Về án phí: Bà Phạm Thị Ng phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0014771 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Bà Phạm Thị Ng đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./
| Nơi nhận: - Đương sự - TAND tỉnh Quảng Nam - VKSND thị xã Điện Bàn; - UBND phường Điện An; - THADS thị xã Điện Bàn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Nhung |