vanban.org

Bản án 07/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Phan Văn T.

Về con chung: Giao cháu Phan Hoài N, sinh ngày 17/6/2015 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu N đủ 18 tuổi, bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng cháu Phan Hoài T1, sinh ngày 21/02/2007, hiện đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung. Ông… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Phan Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 7 - 2025.
V/v tranh chấp xin ly hôn
và nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thanh Tuyền

2. Ông Lê Văn Khanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 109/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1989 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp G X, xã Đ, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp G X, xã Đ, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày: Trãi qua quá trình tìm hiểu, yêu thương nhau và được sự đồng ý của hai bên gia đình, bà H và ông T tiến hành tổ chức lễ cưới theo đúng phong tục truyền thống của địa phương, tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2006 tuy nhiên đến năm 2010 chúng tôi mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A. Thời gian đầu vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc nhưng khoảng năm 2020 bà H và ông T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Sống chung một nhà nhưng mỗi người đều có suy nghĩ, quan điểm riêng của mình, không ai nhường nhịn ai từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nhiều, đến nay tình cảm bà H giành cho ông T đã không còn và ông bà đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay bà H xin được ly hôn với ông T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà H và ông T có 02 người con chung là cháu Phan Hoài T1, sinh ngày 21/02/2007 và cháu Phan Hoài N, sinh ngày 17/6/2015. Bà H có nguyện vọng nuôi cháu cháu N đến tuổi trưởng thành, bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Hoài T1 tại thời điểm xét xử đã đến tuổi trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung.

Về tài sản: Bà H và ông T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết đã nhiều lần tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn ông Phan Văn T nhưng ông T đều vắng mặt.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - An Giang phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự thủ tục giải quyết vụ án.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về nội dung vụ án thì xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện tranh chấp xin ly hôn, nuôi con với ông Phan Văn T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - An Giang.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Bị đơn ông Phan Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

Nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn T là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ giữa bà H và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng trong nhiều năm và đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Từ thời điểm ly thân đến nay, bà H và ông T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Từ đó nhận thấy tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông T để ghi nhận ý kiến của ông T nhưng ông T đều vắng mặt, không trình bày ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, qua đó thể hiện ông T đã không có nguyện vọng khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa ông và bà H.

Từ những cơ sở nhận định trên, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Phan Văn T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà H và ông T có 02 người con là cháu Phan Hoài T1, sinh ngày 21/02/2007 và cháu Phan Hoài N, sinh ngày 17/6/2015. Bà H có nguyện vọng nuôi cháu N đến tuổi trưởng thành, bà H yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con cùng bà. Hiện cháu N do bà H trực tiếp nuôi dưỡng, do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho cháu N được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên khi bà H, ông T ly hôn, đồng thời cháu N là con gái cần sự chăm sóc của người mẹ nên cần giao cháu N cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp, như nguyện vọng của bà H và cháu N và quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Riêng cháu T1 tại thời điểm đưa vụ án ra xét xử, cháu T1 đã đến tuổi trưởng thành nên bà H không yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung.

Bà H không có yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Căn cứ các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - An Giang là phù hợp.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Phan Văn T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí sơ thẩm xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Phan Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Phan Hoài N, sinh ngày 17/6/2015 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu N đủ 18 tuổi, bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng cháu Phan Hoài T1, sinh ngày 21/02/2007, hiện đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung.

Ông Phan Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung và không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005360 ngày 14/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 – An Giang). Như vậy bà H đã nộp xong.

6. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ