vanban.org

Bản án 07/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Minh K.

Về quan hệ hôn nhân: anh Phạm Minh K được ly hôn với chị Nguyễn Thị Diễm T. Về con chung: anh Phạm Minh K tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Minh K và Nguyễn Thị Diễm T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Minh K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6-CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09-7-2025
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Duy Tân.

Ông Lê Hoàng Điệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2025/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Minh K, sinh năm: 1988; CCCD: xxxxxxxxxxxx;

Địa chỉ: ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ (có mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm: 1989; CMND: xxxxxxxxx

Địa chỉ: ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 3 năm 2025 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phạm Minh K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Minh K và chị Nguyễn Thị Diễm T có tổ chức tiệc cưới vào năm 2010, đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 12 năm 2010, tại Ủy ban nhân dân xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Uỷ ban nhân dân xã Long Hưng, thành phố Cần Thơ). Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, thành phố Cần Thơ).

Thời gian đầu khi mới sống chung với nhau thì vợ chồng anh chị sống rất vui vẻ, hạnh phúc. Sau đó đến khoảng 03/2011 thì anh Phạm Minh K với chị T có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do chị Tsống Thành Phố quen nên khi về quê chị Tkhông thích nghi được từ đó dẫn đến vợ chồng cãi vã nên chị Tđã bỏ nhà đi. Khi chị Tbỏ nhà đi thì anh Phạm Minh K đã tìm kiếm bằng nhiều cách như liện hệ với gia đình chị T, điện thoại chị T, về quê gia đình chị Ttừng sinh sống nhưng vẫn không liên lạc được. Chị T đã bỏ địa phương đi đâu làm gì đến nay không ai biết, kể từ đó đến nay đã hơn 10 năm trôi qua nhưng không ai liên lạc được với chị T, anh K không biết chị T đi đâu, làm gì còn sống hay đã chết nên vào ngày 25 tháng 4 năm 2024, anh Klàm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ) tuyên bố chị Nguyễn Thị Diễm T, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1989, nơi cư trú cuối cùng tại ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay tại ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, thành phố Cần Thơ) đã mất tích.

Vụ việc đã được Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ) giải quyết tại Quyết định số: 28/2024/QĐST-VDS ngày 26 tháng 9 năm 2024, chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Minh K và tuyên bố chị Nguyễn Thị Diễm T, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1989, nơi cư trú cuối cùng tại ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay tại ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, thành phố Cần Thơ) đã mất tích và quyết định này đã có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Anh Phạm Minh K tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Phạm Minh K tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh Phạm Minh K tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Diễm T: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn anh Phạm Minh K tại Thông báo thụ lý vụ án số: 47/TB-TLVA, ngày 02 tháng 4 năm 2025 và đã tống đạt hợp lệ (niêm yết) cho bị đơn chị Nguyễn Thị Diễm T, cũng như đã triệu tập hợp lệ chị Tđến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng chị Tđều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho chị Tnhưng chị Tkhông gửi văn bản ghi ý kiến của chị Tđối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của anh Khánh.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ trình bày ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tòa bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Minh K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn chị Nguyễn Thị Diễm T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ) nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Minh K cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn anh Phạm Minh K nộp trực tiếp tại Toà án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Minh K và thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Phạm Minh K yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa anh và bị đơn chị Nguyễn Thị Diễm T, chị T, có nơi cư trú cuối cùng tại ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay tại ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, thành phố Cần Thơ). Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ) thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Minh K và chị Nguyễn Thị Diễm T xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn đúng theo đúng quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống theo anh Ktrình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, do chị Tsống Thành Phố quen nên khi về quê chị Tkhông thích nghi được từ đó dẫn đến vợ chồng cãi vã. Tòa án có mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ triệu tập chị Ttham dự nhưng chị Tđều vắng mặt.

Theo lời trình bày của anh Kkhai thì chị Tbỏ nhà đi từ năm 2011, gia đình không liên lạc được, không biết chị Tlàm gì, ở đâu nên anh Klàm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ) tuyên bố chị Nguyễn Thị Diễm T, có nơi cư trú cuối cùng tại ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, thành phố Cần Thơ) đã mất tích. Vụ việc đã được Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ) giải quyết tại Quyết định số: 28/2024/QĐST-VDS ngày 26 tháng 9 năm 2024, chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Minh K và tuyên bố chị Nguyễn Thị Diễm T, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1989, nơi cư trú cuối cùng tại ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay tại ấp Tân Phước A1, xã Long Hưng, thành phố Cần Thơ) đã mất tích và quyết định này đã có hiệu lực pháp luật.

Trong quá trình chung sống theo anh Ktrình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, do chị Tsống Thành Phố quen nên khi về quê chị Tkhông thích nghi được từ đó dẫn đến vợ chồng cãi vã. Anh Kvà chị Tđã sống ly thân từ năm 2011 đến nay. Đồng thời anh Kcũng đã yêu cầu Toà án tuyên bố chị Tmất tích và hiện nay quyết đã có hiệu lực pháp luật. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án anh Kvẫn cương quyết xin ly hôn với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy, thực trạng mâu thuẫn giữa anh Kvà chị Tđã đến mức trầm trọng, hiện nay anh chị không còn sống chung với nhau như vợ chồng, không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cầu xin ly hôn của anh Phạm Minh K.

Về con chung: Nguyên đơn anh Phạm Minh K tự khai không có, không yêu cầu Tòa án quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về tài sản chung: Nguyên đơn anh Phạm Minh K tự khai không có, không yêu cầu tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về nợ chung: Nguyên đơn anh Phạm Minh K tự khai không có, không yêu cầu tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn anh Phạm Minh K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Minh K.

1. Về quan hệ hôn nhân: anh Phạm Minh K được ly hôn với chị Nguyễn Thị Diễm T.

2. Về con chung: anh Phạm Minh K tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung: anh Phạm Minh K tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: anh Phạm Minh K tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn anh Phạm Minh K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (Phòng thi hành án dân sự khu vực 6, Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007711 ngày 20 tháng 3 năm 2025, anh Phạm Minh K đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ