vanban.org

Bản án 07/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

266, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 238; Điều 271

và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ Hồng _Sáu"
  • Tòa quyết gì? 266, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 238; Điều 271
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04/8/2025
" “V/v Tranh chấp về ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Anh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thương và Bà Vũ Thị Xuyến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Oanh – Kiểm sát viên

Ngày 04/8/2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 74/2025/TLST-HNGĐ ngày 26tháng 5 năm 2025 về việc: "Tranh chấp về ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 09/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2025 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; sinh năm: 1974; Địa chỉ: tổ 4, khu Thanh S 4, phường Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn S; sinh năm:1970; Địa chỉ: tổ 4, khu Thanh S 4, phường Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 13/5/2025, lời khai tại các buổi làm việc tại Tòa án, chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn S kết hôn năm 1995, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Yên Đức, huyện Đông Triều (nay là phường Hoàng Quế, tỉnh Quảng Ninh). Sau khi kết hôn giữa hai vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn trong cuộc sống. Nguyên nhân là do quan điểm sống giữa chị H và anh S không hợp nhau nên có ở gần cũng thường xuyên bất đồng, cãi cọ. Dù hai bên gia đình đã nói chuyện, khuyên giải nhiều lần nhưng anh S không chịu thay đổi bản thân, hai vợ chồng vẫn không thể tìm được tiếng nói chung. Càng ngày cuộc sống chung càng căng thẳng, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Chị H và anh S hiện nay đã sống ly thân nhiều năm. Chị H nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên chị H đề nghị Toà án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh S.

-Về con chung: Chị H và anh S có hai con chung là Phạm Thu Hương, sinh ngày 08/5/1996 (đã trưởng thành) và cháu Phạm Minh Sơn, sinh ngày 02/10/2000 đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị H không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết về tài sản.

* Đối với bị đơn anh Phạm Văn S: Toà án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh đã triệu tập hợp lệ anh S nhiều lần nhưng anh S không đến Toà án để giải quyết vụ án, nên không biết rõ được quan điểm của anh S về việc giải quyết vụ án.

Tại biên bản xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng: Ông Trần Văn Tuấn, khu trưởng khu Thanh S 4, phường Uông Bí cũng xác nhận nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa chị H và anh S đúng như chị H đã trình bày. Nếu chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh S, đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng việc thụ lý vụ án về trình tự, thủ tục, thẩm quyền. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Bị đơn vắng mặt hai lần tại phiên tòa không có lý do chính đáng là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho chị H được ly hôn anh S;

+ Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý và giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa các đương sự có địa chỉ tại khu Thanh S 4, phường Uông Bí, Quảng Ninh, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh, tỉnh Quảng Ninh theo qui định tại khoản 1 điều 28, Điểm a khoản 1 điều 35, Điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phạm Văn S đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn xin xử án vắng mặt. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

.Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án đã xác định chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn S đủ điều kiện kết hôn và tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Yên Đức, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh năm 1995(nay là phường Hoàng Quế, tỉnh Quảng Ninh). Chị H có yêu cầu xin ly hôn với anh S bởi chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng ly thân đã lâu. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống. Dù đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn. Hai vợ chồng không còn quan tâm,chăm sóc và trách nhiệm với nhau. Xét thấy cuộc sống vợ chồng của chị H và anh S không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H là có cơ sở phù hợp với qui định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.

.Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn S có có hai con chung là Phạm Thu Hương, sinh ngày 08/5/1996 (đã trưởng thành) và cháu Phạm Minh Sơn, sinh ngày 02/10/2000 đều đã trưởng thành nên HĐXX không xem xét giải quyết.

. Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản, anh Phạm Văn S vắng mặt, không có quan điểm về tài sản. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án.

- Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình;

- Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Phạm Văn S.

2.Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0002946 ngày 26/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 2 - Quảng Ninh).

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ