- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” của nguyên đơn chị Bùi Thị Thanh T với bị đơn anh Lê Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BP Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29/4/2025 Về việc “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PL - TỈNH BP
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông: Nguyễn Văn Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Tạ Đình Thành
Bà: Vũ Thị Lựu
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Minh Toản – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh BP.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã PL tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh BP xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: chị Bùi Thị Thanh T, sinh năm: 1989 – Có mặt.
Bị đơn: anh Lê Văn K, sinh năm: 1982 – Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: khu phố 9, phường Long Phước, thị xã PL, tỉnh BP.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn yêu cầu ly hôn và các biên bản làm việc, nguyên đơn chị Bùi Thị Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Bùi Thị Thanh T và anh Lê Văn K chung sống với nhau từ năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Long Phước, thị xã PL, tỉnh BP (theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 21, ngày 22/02/2023). Trong thời gian chung sống, giữa chị T, anh K thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong cuộc sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, nguyên nhân chính là do vợ chồng hợp bất đồng quan điểm trong cuộc sống hằng ngày, tính tình không hòa hợp, không thống nhất được mọi việc sinh hoạt trong gia đình, anh K không chăm lo cho cuộc sống chung của gia đình. Vì vậy chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh K.
Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị Bùi Thị Thanh T và anh Lê Văn K có với nhau 01 (một) người con chung tên: Lê Văn Minh Kh, sinh ngày 11/01/2023. Chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Kh cho đến khi đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, về nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: anh Lê Văn K đã được Tòa án tống đạt đầy đủ, hợp lệ, các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do.
Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, chị T đề nghị không tiến hành hòa giải, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thanh T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện được ly hôn với anh Lê Văn K; Yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung tên: Lê Văn Minh Kh, sinh ngày 11/01/2023 cho đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: anh Lê Văn K vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã PL, tỉnh BP phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Thanh T về việc “Ly hôn, nuôi con”, đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T với anh K, đề nghị giao 01 con chung tên Lê Văn Minh Kh, sinh ngày 11/01/2023 cho chị Bùi Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Thanh T thuộc trường hợp “Ly hôn, nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Lê Văn K có địa chỉ tại khu phố 9, phường Long Phước, thị xã PL, tỉnh BP.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã PL, tỉnh BP.
[2]. Về tố tụng:
Tòa án đã tiến hành các thủ tục xác minh, tống đạt các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa cho bị đơn theo đúng quy định của pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3]. Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: chị Bùi Thị Thanh T và anh Lê Văn K kết hôn hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường Long Phước, thị xã PL, tỉnh BP theo Giây chứng nhận đăng ký kết hôn số: 21/2023 ngày 22/02/2023, xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là do vợ chồng hợp bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, không thống nhất được mọi việc sinh hoạt trong gia đình, vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vả, anh K không chăm lo cho cuộc sống chung của gia đình nên mâu thuẫn của hai vợ chồng không thể hàn gắn được.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú và xác định được nguyên nhân dẫn đến yêu cầu ly hôn của chị T là do anh K không chăm lo cho cuộc sống chung của vợ chồng, anh K thường xuyên nhậu nhẹt, chửi bởi, đánh đập, hăm dọa vợ con, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng trong cuộc sống. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị T, anh K đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Bùi Thị Thanh T với bị đơn anh Lê Văn K.
Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị Bùi Thị Thanh T và anh Lê Văn K có 01 người con chung tên Lê Văn Minh Kh, sinh ngày 11/01/2023, hiện tại chị T và anh K đã sống ly thân với nhau, khi ly thân thì chị T có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng anh K không đồng ý, có thái độ hăm dọa nên hiện tại anh K vẫn đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung.
Qua xác minh thì anh K không có công việc, thu nhập ổn định, thường xuyên nhậu nhẹt rượu chè, mặt khác cháu Lê Văn Minh Kh, sinh ngày 11/01/2023 còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh K đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt mà không có lý do, anh K không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình về hôn nhân, con chung theo quy định của pháp luật. Để đảm bảo cho sự phát triển của con chung, HĐXX xét thấy cần thiết giao con chung là cháu Lê Văn Minh Kh, sinh ngày 11/01/2023 cho chị Bùi Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Bùi Thị Thanh T không yêu cầu anh Lê Văn K cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bùi Thị Thanh T không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH của Ủy ban thường vụ quốc hội. Nguyên đơn chị Bùi Thị Thanh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 51; Điều 56 và Điều 57; các điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” của nguyên đơn chị Bùi Thị Thanh T với bị đơn anh Lê Văn K.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Bùi Thị Thanh T được ly hôn với anh Lê Văn K.
2. Về con chung: Giao 01 (một) con chung tên: Lê Văn Minh Kh, sinh ngày 11/01/2023 cho chị Bùi Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi. Anh Lê Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Bùi Thị Thanh T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã PL, tỉnh BP theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0003399, ngày 17/02/2025.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BP (1) - VKSND thị xã PL (1) - Chi cục THA DS thị xã PL (1) - UBND phường Long Phước (1) - Đương sự (2) - Lưu HSVA (1) (Tổng 7 bản) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Hưng |