vanban.org

Bản án 07/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Nhật L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 74, ngày 28 tháng 10 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang). Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy V, sinh ngày 14/9/2011 và cháu Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 14/6/2015 cho chị Nguyễn Nhật L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh Nguy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án về ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Nhật L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST
Ngày 24/01/2025
Về việc: “Ly hôn, giao nuôi con chung
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Hồng Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Thanh Nghệ và ông Hoàng Văn Hùng.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Thế Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu T - Kiểm sát viên.

Ngày 24/01/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 434/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03/10/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 06/01/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Nhật L, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn S, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Thôn S, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Nhật L và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn với nhau vào năm 2010, trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 28/10/2010 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện S đến năm 2014 thì chuyển về sinh sống tại thôn S, xã Q, huyện S. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, đến năm năm 2021 phát sinh mâu thuẫn. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, tháng 10 năm 2024 chị Nguyễn Nhật L có đơn khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Nhật L trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống hai vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, suy nghĩ không còn hiểu nhau, anh T1 ham chơi, rượu chè không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xích mích, không có hạnh phúc... mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, đời sống chung không có hạnh phúc. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Toà án nhân dân huyên Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

- Về con chung: Chị Nguyễn Nhật L và anh Nguyễn Văn T1 có 02 người con chung là Nguyễn Thùy V, sinh ngày 14/9/2011 và Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 14/6/2015. Quá trình giải quyết chị L có quan điểm nhận là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Lời khai của cháu Nguyễn Thùy V và cháu Nguyễn Hoàng N có trong hồ sơ thể hiện nguyện vọng của cháu được ở cùng mẹ khi bố mẹ ly hôn.

- Về tài sản, đất đai chung: Chị Nguyễn Nhật L xác định tự thoả thuận, không đề nghị Toà án giải quyết.

- Về vay nợ chung: Chị Nguyễn Nhật L xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.

Kết quả xác minh thể hiện: Chị Nguyễn Nhật L và anh Nguyễn Văn T1 có hộ khẩu thường trú tại thôn S, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Chị L và anh T1 kết hôn với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang một thời gian, sau đó đến năm 2014 thì chuyển về sinh sống tại thôn S, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T1 ham chơi ít quan tâm đến gia đình, vợ con nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xích mích. Mâu thuẫn đã được thôn và gia đình nhiều lần hoà giải nhưng không thành.

Anh Nguyễn Văn T1 làm lao động tự do thường xuyên vắng mặt tại địa phương vào ban ngày có những lần đi cả tuần mới về nhà. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần anh T1 vẫn không đến Toà án làm việc. Do vậy Toà án nhân dân huyện Sơn Dương chỉ tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ với nguyên đơn và không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn khi tham gia tố tụng đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T1 không chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Nhật L và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn vào năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện S là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Do vậy, căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX xử cho chị Nguyễn Nhật L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1; giao cháu Nguyễn Thùy V, sinh ngày 14/9/2011 và cháu Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 14/6/2025 cho chị Nguyễn Nhật L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về tài sản, đất đai: Chị Nguyễn Nhật L xác định tự thoả thuận, không đề nghị giải quyết nên không đề cập xử lý; về vay nợ chung: Chị Nguyễn Nhật L xác định không có, không đề nghị giải quyết nên không đề cập xử lý.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

. Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện chị Nguyễn Nhật L đề nghị Toà án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1 và giao nuôi con chung khi ly hôn; không đề nghị giải quyết về tài sản, đất đai, công nợ chung. Do vậy, quan hệ pháp luật ở đây được xác định là “Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã triệu tập anh Nguyễn Văn T1 nhiều lần nhưng anh T1 không đến làm việc, đây được xác định thuộc trường hợp bị đơn cố tình trốn tránh nghĩa vụ. Tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Nhật L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Nhật L và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 28/10/2010 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau phát sinh mâu thuẫn. Tháng 10 năm 2024 chị Nguyễn Nhật L có đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

Như vậy, cuộc sống hôn nhân của chị Nguyễn Nhật L và anh Nguyễn Văn T1 có hạnh phúc thời gian đầu sau phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, không hạnh phúc nên xác định hôn nhân của chị L anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Nhật L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Nhật L và anh Nguyễn Văn T1 có 02 con chung là Nguyễn Thùy V, sinh ngày 14/9/2011 và Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 14/6/2015.

Xét thấy, cháu Nguyễn Thùy V và cháu Nguyễn Hoàng N là con chung của chị Nguyễn Nhật L và anh Nguyễn Văn T1 nên anh chị đều cùng phải có nghĩa và trách nhiệm đối với các cháu. Tuy nhiên, do anh T1 không có mặt ở địa phương, quá trình giải quyết chị L có quan điểm được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 02 cháu và không yêu cầu anh T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Lời khai của cháu Nguyễn Thùy V và cháu Nguyễn Hoàng N có trong hồ sơ thể hiện các cháu có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung và đảm bảo quyền lợi của các đương sự sau khi ly hôn. Xét điều kiện kinh tế, nguyện vọng của các đương sự và con chung, căn cứ theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cần giao cháu Nguyễn Thùy V, sinh ngày 14/9/2011 và cháu Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 14/6/2015 cho chị Nguyễn Nhật L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

2.3. Về tài sản, đất đai chung: Chị Nguyễn Nhật L xác định tự thoả thuận, không đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét.

2.4. Về vay nợ chung: Chị Nguyễn Nhật L xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét.

. Về án phí: Chị Nguyễn Nhật L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Nhật L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 74, ngày 28 tháng 10 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang).

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy V, sinh ngày 14/9/2011 và cháu Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 14/6/2015 cho chị Nguyễn Nhật L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Nhật L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001398 ngày 03/10/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Chị Nguyễn Nhật L đã nộp đủ án phí của vụ án.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ