vanban.org

Bản án 07/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Tú N. Chị Trương Thị Tú N được ly hôn với anh Nguyễn Chí T.

Về con chung: Giao chị N được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Trương Minh K sinh ngày xx/xx/xxxx. Buộc anh Nguyễn Chí T cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng, bắt đầu thực hiện từ tháng 02 năm 2025 cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi, lao động được và anh được quyền đi lại thăm nom, chăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Tú N. Chị Trương Thị Tú N được ly hôn với anh Nguyễn Chí T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 07/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 14/01/2025.
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Tuấn; Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Lê Thị Gắn; 2. Bà: Huỳnh Thị Phượng;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Trần Huỳnh Đức Lập – kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 257/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 288/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 324/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024; Thông báo dời phiên tòa số 01/2025/TB-TA ngày 06 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Tú N – sinh năm xxxx; Địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện G, tỉnh T (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Chí T - sinh năm xxxx; Địa chỉ: Khu phố C x, thị trấn V, huyện G, tỉnh T (vắng mặt không lý do);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, nguyên đơn chị Trương Thị Tú N trình bày:

Chị và anh Nguyễn Chí T cưới nhau vào tháng 02 năm 2021, được sự tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vả nhau nên chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2024 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể trở lại chung sống được nữa nên chị xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trương Minh K sinh ngày xx/xx/xxxx, hiện cháu đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi con, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Chí T vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn chị Trương Thị Tú N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn anh Nguyễn Chí T vắng mặt không lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu về việc tuân theo tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

+ Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự thực hiện đúng trình tự, qui định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định quan hệ các bên đang tranh chấp là “xin ly hôn”.

[2] Xét bị đơn anh Nguyễn Chí T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, lần 2; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Thông báo dời phiên tòa nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 227, 228, 233 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T.

[3] Xét về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T cưới nhau vào tháng 02 năm 2021, được sự tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vả nhau nên chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2024 cho đến nay. Nay chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể trở lại chung sống được nữa nên chị xin được ly hôn với anh T. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh T không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Mặc dù anh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh T vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến cũng như đến Tòa án để giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của chị N. Điều đó cho thấy anh T không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không quan tâm đến vợ và con. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị Trương Thị Tú N.

[4] Về con chung: Chị N khai có 01 con chung tên Nguyễn Trương Minh K sinh ngày xx/xx/xxxx, hiện cháu đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị N xin được tiếp tục nuôi con. Xét yêu cầu xin được tiếp tục nuôi con của chị N là tự nguyện, phù hợp với qui định của pháp luật nên Hội đồng xét xử giao cho chị N được tiếp tục nuôi cháu K và anh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi, lao động được. Xét yêu cầu của chị N là có cơ sở vì anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý cũng như các văn bản tố tụng, tuy nhiên anh T không có ý kiến phản đối đối với mức yêu cầu cấp dưỡng của chị N. Do đó Hội đồng xét xử cần buộc anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, bắt đầu thực hiện từ tháng 02 năm 2025 cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi, lao động được.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Chị N, anh T phải chịu án phí theo qui định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Tú N. Chị Trương Thị Tú N được ly hôn với anh Nguyễn Chí T.

2. Về con chung: Giao chị N được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Trương Minh K sinh ngày xx/xx/xxxx. Buộc anh Nguyễn Chí T cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng 2.000.000 (hai triệu) đồng, bắt đầu thực hiện từ tháng 02 năm 2025 cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi, lao động được và anh được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí HNST nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0013705 ngày 30/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, nên chị N đã nộp xong án phí. Buộc anh T chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

4. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ