vanban.org

Bản án 07/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị S (M) đối với bà Huỳnh Thúy D. Buộc bà Huỳnh Thúy D trả bà Huỳnh Thị S (M) tổng số tiền 274.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi suất chậm thi hành án, tương ứng với thời gian chưa hành án theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự. Về án phí sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị S (M) đối với bà Huỳnh Thúy D. Buộc bà Huỳnh Thúy D trả bà Huỳnh Thị S (M) tổng số tiền 274.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/DS-ST
Ngày: 23 - 7 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - VĨNH LONG

TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thiết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Triều

2. Ông Sơn Mứt

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Thuý Vy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 23 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2025/QĐST-DS, ngày 07 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1964 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long).

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng C, sinh năm 1994 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp Đ, phường Đ, tỉnh Vĩnh Long).

2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thúy D, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, phường B, tỉnh Vĩnh Long).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 3 năm 2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị S có người đại diện trình bày:

Vào ngày 24 tháng 6 năm 2024, bà Huỳnh Thúy D có vay của bà Huỳnh Thị S (tên thường gọi Mười M) số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng) theo giấy nợ viết tay do bà D ký xác nhận, không thỏa thuận lãi suất. Theo thoả thuận bà D hẹn trong 01 tháng sẽ thanh toán đủ số tiền cho bà S. Tuy nhiên, đến nay bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ dù bà S có nhắc nhiều lần. Nay, bà S yêu cầu bà Huỳnh Thúy D trả số tiền nợ là 250.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 24/6/2024 đến ngày 18/3/2025 theo lãi suất 0.83%/tháng x 8 tháng 22 ngày là 21.833.333 đồng và tính lãi đến ngày xét xử.

- Bị đơn bà Huỳnh Thúy D đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà nhưng không đến Tòa và không cung cấp bản khai ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Vĩnh Long đã thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ vào khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.

Xét việc, bà Huỳnh Thúy D được triệu tập hợp lệ tham dự phiên hòa giải, thông báo về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ngày giờ xét xử đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt.

Về nội dung:

- Chị Lê Thị Hồng C đại diện cho nguyên đơn trình bày, bà Huỳnh Thúy D có nợ tiền hụi nhiều lần, sau đó vì không có tiền trả nên bà D viết giấy nhận nợ bà Mười M (tức bà Huỳnh Thị S) số tiền 250.000.000 đồng, Giấy nhận nợ ghi ngày 24/6/2024, bà D cam kết trong vòng 01 tháng sẽ trả đủ tiền cho bà S nhưng đến nay vẫn chưa trả.

Do đó, bà S yêu cầu bà Huỳnh Thúy D trả số tiền 250.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 24/7/2024 đến ngày 23/7/2025 (là 11 tháng 29 ngày) theo mức lãi suất 0.83%/tháng bằng số tiền 24.830.000 đồng. Tổng vốn, lãi tính đến ngày 23/7/2025 là: 274.830.000 đồng (hai trăm bảy mươi bốn triệu, tám trăm ba mươi ngàn đồng).

- Xét yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị S là có căn cứ chấp nhận. Bởi các lẽ: Theo giấy nhận nợ ghi ngày 24/6/2024, bà Huỳnh Thúy D có cam kết trong vòng 01 tháng sẽ trả đủ tiền nhưng vẫn chưa trả. Do đó, việc bà Huỳnh Thị S (M) yêu cầu trả tiền nợ và yêu cầu tính lãi từ ngày 24/7/2024 đến ngày xét xử bằng 11 tháng 29 ngày là có căn cứ.

Buộc bà Huỳnh Thúy D trả bà Huỳnh Thị S (M) số tiền nợ theo giấy nhận nợ ngày 24/6/2024 là 250.000.000 đồng. Buộc bà D trả lãi suất 0.83%/ tháng tính từ ngày 24/7/2024 đến ngày 23/7/2025 cụ thể: 250.000.000đ x 0.83% x 11 tháng 29 ngày = 24.830.000đ. Cộng chung là: 274.830.000 đồng (hai trăm bảy mươi bốn triệu, tám trăm ba mươi ngàn đồng).

Về án phí sơ thẩm:

Buộc bà Huỳnh Thúy D nộp án phí 13.741.000 đồng án phí sơ thẩm. Bà Huỳnh Thị S không phải nộp án phí; Hoàn trả bà Huỳnh Thị S số tiền tạm ứng án phí 6.796.000 đồng (sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005595 ngày 11/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh (nay là Phòng THADS khu vực 3 - Vĩnh Long).

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 357; Điều 463; Điều 466, Điều 468; Điều 469 Bộ Luật Dân sự; khoản 1 Điều 12; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị S (M) đối với bà Huỳnh Thúy D. Buộc bà Huỳnh Thúy D trả bà Huỳnh Thị S (M) tổng số tiền 274.830.000 đồng (hai trăm bảy mươi bốn triệu, tám trăm ba mươi ngàn đồng). Trong đó, tiền nợ là 250.000.000 đồng và tiền lãi là 24.830.000 đồng tính từ ngày 24/7/2024 đến ngày 23/7/2025 mức lãi suất 0.83%/tháng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi suất chậm thi hành án, tương ứng với thời gian chưa hành án theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.

- Về án phí sơ thẩm:

Buộc bà Huỳnh Thúy D nộp án phí 13.741.000 đồng án phí sơ thẩm. Bà Huỳnh Thị S không phải nộp án phí. Hoàn trả bà Huỳnh Thị S số tiền tạm ứng án phí 6.796.000 đồng (sáu triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005595 ngày 11/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh (nay là Phòng THADS khu vực 3 - Vĩnh Long).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Quyền kháng cáo:

Án xử công khai các đương sự có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ