vanban.org

Bản án 07/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ( Phạm Thị Xoan ). Buộc bị đơn (Trần Châu) có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị Xoan số tiền gốc là 31.150.000 đồng và 12.165.000 đồng tiền lãi (tiền lãi tạm tính đến ngày 08/6/2025 ). Tổng cộng là 43.315.000 đồng . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bna3 án DSST, Phạm Thị X - Trần C"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÔNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/DS-ST
Ngày: 20/5/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Huế

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Nga và ông R Mah In ( Ama Ka)

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST- DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản ”, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Phạm Thị Xoan, sinh năm: 1970 ( có mặt)

Địa chỉ: TDP7, thị trấn Krông Kmar, huyện Krông Bông, Đắk Lắk.

- Bị đơn: Trần Châu ( vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 7, xã Cư Kty, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Kim Anh, sinh năm: 1996 ( vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 7, Cư Kty, Krông Bông, Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện , tại bản tự khai và các buổi làm việc tại Toà án , cũng như tại phiên toà, bà Phạm Thị Xoan trình bày :

Ngày 07/4/2023, tôi đã cho ông Trần Châu vay số tiền là 34.500.000 đồng. Thời hạn trả nợ là 01 tháng kể từ ngày công chứng hợp đồng vay tiền. Lãi suất 20%/ năm của khoản tiền vay.

Tháng 06/2023, ông Trần Châu đã trả cho tôi số tiền là 4.500.000 đồng, số tiền này ông Châu trả cho tôi thông qua cửa hàng Viettel huyện Krông Bông, Đắk Lắk và tôi đã ra cửa hàng Viettel để lấy số tiền này. Ngoài ra, ông Châu chưa trả thêm cho tôi được đồng nào. Số tiền này, trừ tiền lãi tính từ ngày 07/04/2023 đến ngày 07/6/2023 là 34.500.000 đồng x 20%/năm x 2 tháng = 1.150.000 đồng, số tiền còn lại là 4.500.000 đồng – 1.150.000 đồng = 3.350.000 đồng. Tôi trừ vào tiền gốc. Như vậy, đến nay ông Châu còn nợ tôi số tiền gốc là 34.500.000 đồng – 3.350.000 đồng = 31.150.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 08/6/2023 đến ngày xét xử, ngày 20/5/2025 là 23 tháng 13 ngày, tiền lãi phát sinh là : 31.150.000 đồng x 20%/năm x 23 tháng 13 ngày = 12.165.805 đồng, tính tròn số là 12.165.000 đồng

Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đắk Lắk giải quyết buộc ông Trần Châu phải trả cho tôi số tiền nợ gốc là 31.150.000 đồng và tiền lãi phát sinh là : 12.165. 000 đồng. Tổng cộng là 43.315.000 đồng

Ngoài ra, tôi còn yêu cầu anh Trần Châu phải trả cho tôi tiền lãi từ ngày 21/5/2025 cho đến khi hết nợ gốc.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 17/2024/HS-ST ngày 03/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk đã xét xử tôi về tội cho vay lãi nặng nhưng ông Trần Châu không có tên trong danh sách những người có liên quan. Do vậy, tôi được biết ông Trần Châu không có đơn từ gì gửi Công an để tố cáo tôi. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Việc ông Trần Châu trình bày có nhờ cô Nguyễn Thị Kim Anh trả tiền cho tôi là không đúng sự thật, cô Nguyễn Thị Kim Anh chưa mang tiền qua nhà tôi trả dùm cho ông Trần Châu lần nào.

Về án phí: Tôi đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật

Tại bản tự khai và các biên bản làm việc tại Toà án, ông Trần Châu trình bày: Tôi có vay bà Xoan số tiền 30.000.000 đồng, lãi mỗi tháng tôi phải trả cho bà Xoan là 4.500.000 đồng, tôi đã trả cho bà Xoan được 5 tháng với số tiền là 22.500.000 đồng thì bà Xoan bị bắt về tội cho vay nặng lãi. Lúc đấy bà Xoan gọi điện thoại cho tôi và bảo tôi đừng ra làm chứng, bà Xoan trả căn cước công dân cho tôi và huỷ hết giấy tờ cho vay tiền. Nay Toà án huyện Krông Bông triệu tập tôi mới biết số tiền vay không phải 30.000.000 đồng mà là 34.500.000 đồng và tính lãi từ ngày vay đến nay.

Hợp đồng cho vay tiền được văn phòng công chứng Nguyễn Thị Mai Phương chứng thực ngày 07/4/2023 là chữ ký, chữ viết của tôi, chữ ký từng trang trong hợp đồng này cũng là chữ ký của tôi. Nhưng thực chất tôi chỉ vay bà Xoan 30.000.000 đồng nhưng trong hợp đồng lại ghi số tiền là 34.500.000 đồng là không đúng thực tế.

Vào khoảng tháng 6/2023 thì bà Xoan yêu cầu tôi ra đưa tiền cho nhân viên của cửa hàng Viettel huyện Krông Bông nên tôi đã đưa cho nhân viên cửa hàng Viettel số tiền 4.500.000 đồng; Một lần tôi đưa cho cô Nguyễn Thị Kim Anh, sinh năm: 1996; địa chỉ: Thôn 7, Cư Kty, Krông Bông, Đắk Lắk số tiền 4.500.000 đồng để chị Kim Anh đưa tiền trả cho bà Xoan, còn ba lần khác thì tôi đưa tiền mặt cho bà Xoan, khi tôi đưa tiền cho bà Xoan mà tôi không yêu cầu bà Xoan ghi giấy tờ gì nên không nộp cho Toà án được

Tôi không đồng ý với yêu cầu của bà Xoan, tôi đã trả cho bà Xoan 22.500.000 đồng, tôi vay của bà Xoan 30.000.000 đồng gốc như vậy tôi còn nợ bà Xoan số tiền 7.500.000 đồng. Tôi chỉ chấp nhận trả cho bà Xoan số tiền 7.500.000 đồng còn nợ và tiền lãi phát sinh tính lãi suất 20%/ năm, tính từ tháng 9/2023

Tại biên bản lấy lời khai ngày 03/03/2025, chị Nguyễn Thị Kim Anh trình bày: Tôi và anh Trần Châu là họ hàng . Tôi dẫn anh Trần Châu đến vay tiền của bà Phạm Thị Xoan . Lúc anh Châu vay tiền của bà Xoan, tôi có chứng kiến, anh Châu vay của bà Xoan số tiền là 30.000.000 đồng. Năm 2023, anh Châu có đưa cho tôi 2 hay 3 lần gì đấy, mỗi lần anh Châu đưa cho tôi số tiền 4.500.000 đồng để trả tiền lãi cho bà Xoan, tôi mang số tiền này sang nhà trả cho bà Xoan và khi trả không có viết giấy tờ gì hết cũng không có người làm chứng. Tôi cũng còn nợ tiền bà Xoan nên khi tôi mang số tiền 4.500.000 đồng anh Châu gửi sang trả cho bà Xoan, tôi đều nói là anh Châu gửi trả tiền cho cô.

Tại công văn số 36 ngày 25/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Krông Bông, Đắk Lắk cho biết: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Krông Bông, Đắk Lắk không nhận được đơn tố cáo của ông Trần Châu, sinh năm: 1986 đối với bà Phạm Thị Xoan về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự .

Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Châu và chị Nguyễn Thị Kim Anh không đưa ra bất kỳ bằng chứng nào về việc đã trả tiền cho bà Xoan .

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, xác định mối quan hệ tranh chấp, những người tham gia tố tụng đúng, đủ; tiến hành thu thập chứng cứ, hoà giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu Thẩm phán đã chấp hành đúng với quy định tại Điều 48 BLTTDS và tiến hành các hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ án theo đúng quy định của BLTTDS; Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc trường hợp phải thay đổi, việc hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục tống đạt được đảm bảo đúng các quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm.

Về nội dung:

Ngày 07/4/2023, bà Xoan đã cho ông Trần Châu vay số tiền là 34.500.000 đồng. Thời hạn trả nợ là 01 tháng kể từ ngày công chứng hợp đồng vay tiền, ngày 07/4/2023. Lãi suất 20%/ năm của khoản tiền vay.

Tháng 06/2023, ông Trần Châu đã trả cho bà Xoan số tiền là 4.500.000 đồng thông qua cửa hàng Viettel, số tiền này được trừ vào tiền lãi phát sinh tính từ ngày 07/04/2023 đến ngày 07/6/2023 là 1.150.000 đồng, số tiền còn lại là 3.350.000 đồng được trừ vào tiền gốc. Như vậy, đến nay ông Châu còn nợ bà Xoan số tiền gốc là 31.150.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 08/6/2023 đến ngày xét xử, ngày 20/5/2025 là 12.165.805 đồng, tính tròn số là 12.165.000 đồng . Tổng cả gốc là lãi, tình tròn số là 43.315.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Ngoài ra, cần chấp nhận việc bà Xoan yêu cầu ông Trần Châu phải trả tiền lãi từ ngày 21/5/2025 cho đến khi hết nợ gốc cho bà Xoan.

Việc anh Trần Châu trình bày, hiện nay Cơ quan Công an đang điều tra hành vi bà Phạm Thị Xoan cho vay lãi nặng đối với anh do anh làm đơn tố cáo. Tuy nhiên, lời trình bày của anh không có cơ sở nên không chấp nhận .

Đối với ý kiến của ông Trần Châu cho rằng đã trả cho bà Xoan được 05 lần với số tiền 22.500.000 đồng, trong đó có 01 lần thông qua cửa hàng Viettel huyện Krông Bông, trả cho bà Xoan 4.500.000 đồng, gửi cho chị Nguyễn Thị Kim Anh trả cho bà Xoan 4.500.000 đồng. Còn 03 lần khác, ông Trần Châu đưa tiền mặt cho bà Xoan nhưng bà Xoan cho rằng chỉ nhận tại cửa hàng Viettel số tiền 4.500.000 đồng , số tiền còn lại là 18.000.000 đồng, bà Xoan không nhận từ ông Trần Châu cũng như từ chị Nguyễn Thị Kim Anh . Ông Châu không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có cơ sở. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận

Đối với ý kiến của ông Châu cho rằng , ông Châu chỉ mượn bà Xoan 30.000.000 đồng. Nhưng trong Hợp đồng cho vay tiền được văn phòng công chứng Nguyễn Thị Mai Phương chứng thực ngày 07/4/2023 ghi 34.500.000 đồng. Ông Châu xác nhận ký từng trang trong hợp đồng này là chữ ký, chữ viết của ông. Do vậy, lời trình bày của ông Châu là không có cơ sở nên không chấp nhận.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở lời trình bày của đương sự cũng như qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn ( Phạm Thị Xoan ) yêu cầu Tòa án giải quyết “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản ” với bị đơn ( Trần Châu). Các đương sự đều có hộ khẩu thường trú tại huyện Krông Bông, Đắk Lắk. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về tố tụng: Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn (ông Trần Châu) và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (bà Nguyễn Thị Kim Anh) không đến tham dự phiên tòa nhưng đây là lần thứ hai phiên toà được mở. Do vậy, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đắk Lắk vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về nội dung vụ án:

Ngày 07/4/2023, bà Xoan đã cho ông Trần Châu vay số tiền là 34.500.000 đồng. Thời hạn trả nợ là 01 tháng kể từ ngày công chứng hợp đồng vay tiền, ngày 07/4/2023. Lãi suất 20%/ năm của khoản tiền vay.

Tháng 06/2023, ông Trần Châu đã trả cho bà Xoan số tiền là 4.500.000 đồng thông qua cửa hàng Viettel, số tiền này được trừ vào tiền lãi phát sinh tính từ ngày 07/04/2023 đến ngày 07/6/2023 là 1.150.000 đồng, số tiền còn lại là 3.350.000 đồng được trừ vào tiền gốc. Như vậy, đến nay ông Châu còn nợ bà Xoan số tiền gốc là 31.150.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 08/6/2023 đến ngày xét xử, ngày 20/5/2025 là 12.165.805 đồng, tính tròn số là 12.165.000 đồng . Tổng cả gốc là lãi, tình tròn số là 43.315.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Ngoài ra, cần chấp nhận việc bà Xoan yêu cầu ông Trần Châu phải trả tiền lãi từ ngày 21/5/2025 cho đến khi hết nợ gốc cho bà Xoan.

Việc ông Trần Châu trình bày, hiện nay Cơ quan Công an đang điều tra hành vị bà Phạm Thị Xoan cho vay lãi nặng đối với ông do ông làm đơn tố cáo. Tuy nhiên, lời trình bày của ông không có cơ sở nên không chấp nhận .

Đối với ý kiến của ông Trần Châu cho rằng đã trả cho bà Xoan được 05 lần với số tiền 22.500.000 đồng, trong đó có 01 lần thông qua cửa hàng Viettel huyện Krông Bông, trả cho bà Xoan 4.500.000 đồng, gửi cho chị Nguyễn Thị Kim Anh trả cho bà Xoan 4.500.000 đồng. Còn 03 lần khác, ông Trần Châu đưa tiền mặt cho bà Xoan nhưng bà Xoan cho rằng chỉ nhận tại của hàng Viettel số tiền 4.500.000 đồng , số tiền còn lại là 18.000.000 đồng, bà Xoan không nhận. Ông Châu không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có cơ sở nên không chấp nhận.

Đối với ý kiến của ông Châu cho rằng , ông Châu chỉ mượn bà Xoan 30.000.000 đồng. Nhưng trong Hợp đồng cho vay tiền được văn phòng công chứng Nguyễn Thị Mai Phương chứng thực ngày 07/4/2023 ghi 34.500.000 đồng. Ông Châu xác nhận ký từng trang trong hợp đồng này là chữ ký, chữ viết của ông. Do vậy, lời trình bày của ông Châu là không có cơ sở nên không chấp nhận.

Về án phí : Yêu cầu của bà Phạm Thị Xoan được chấp nhận. Vì vậy, ông Trần Châu phải nộp án phí là 43.315.000 đ x 5% = 2.165.750 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 và Điều 228; khoản 2 Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 463; 466 và 468 Bộ luật Dân sự

Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ( Phạm Thị Xoan ). Buộc bị đơn (Trần Châu) có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị Xoan số tiền gốc là 31.150.000 đồng và 12.165.000 đồng tiền lãi (tiền lãi tạm tính đến ngày 08/6/2025 ). Tổng cộng là 43.315.000 đồng .

2. Về án phí: Ông Trần Châu phải chịu trách nhiệm nộp 2.165.750 đồng án phí Dân sự sơ thẩm .

Trả lại cho bà Phạm Thị Xoan số tiền tạm ứng án phí DSST là 1.150.000 đồng theo biên lai số 0007306 ngày 06/01/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk

3. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản bán được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ