vanban.org

Bản án 07/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT chi nhánh Bình Phước – phòng giao dịch Lộc Ninh.

Buộc ông Trần Mạnh C trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT chi nhánh Bình Phước – phòng giao dịch Lộc Ninh số tiền gốc là 24.573.631đồng và lãi là 8.629.137 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 33.202.768 đ (ba mươi ba triệu hai trăm lẻ hai ngàn bảy trăm sáu mươi tám đồng). Ngoài ra, ông C tiếp tục trả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NGÂN HÀNG TMCPSGTT, TRẦN MẠNH C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT chi nhánh Bình Phước – phòng giao dịch Lộc Ninh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/DS – ST
Ngày: 21/4/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH BÌNH PHƢỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Chinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Đức Thọ

2. Ông Nguyễn Văn Ngân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Như Mai Trang - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm C khai vụ án dân sự thụ lý số: 230/2024/TLST- DS ngày 15 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST – DS ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) SGTT .

Địa chỉ: Số 266 – 268, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T – Chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng TMCP SGTT chi nhánh Bình Phước, kiêm trưởng phòng giao dịch Lộc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Hoàng Huy H – Chức vụ: Phó phòng giao dịch Ngân hàng TMCP SGTT, phòng giao dịch Lộc Ninh (có mặt).

Bị đơn: Ông Trần Mạnh C, sinh năm: 2002 (vắng mặt) Địa chỉ: Tổ 11, ấp 8, xã LĐ, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Hoàng Huy H trình bày:

Ngày 23/11/2023, ông Trần Mạnh C ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần (gọi tắt TMCP) SGTT chi nhánh Bình Phước – phòng giao dịch Lộc Ninh hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 3037441 (giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân) với hạn mức sử dụng là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ, ông C đã thực hiện các giao dịch với số tiền lũy kế là 28.690.000đ (hai mươi tám triệu sáu trăm chín mươi ngàn đồng). Trong quá trình sử dụng, ông C đã thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 8.071.874 đồng. Còn nợ lại tiền gốc là 24.573.631đ (Hai mươi bốn triệu năm trăm bảy mươi ba ngàn sáu trăm ba mươi mốt đồng) và lãi.

Do ông C không thanh toán số tiền còn nợ nên Ngân hàng TMCP SGTT chi nhánh Bình Phước – phòng giao dịch Lộc Ninh yêu cầu ông C trả số tiền gốc là 24.573.631đồng và lãi tính đến ngày xét xử (ngày 21/4/2025) là 8.629.137đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 33.202.768 đ (ba mươi ba triệu hai trăm lẻ hai ngàn bảy trăm sáu mươi tám đồng). Ngoài ra, ông C tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 22/4/2025 cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng tại Hợp đồng tín dụng trên.

* Bị đơn ông Trần Mạnh C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xác định mối quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt nhưng Tòa án đã tống đạt các thủ tục theo quy định pháp luật nên đề nghị xét xử vắng mặt ông C.

- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Trần Mạnh C trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT chi nhánh Bình Phước – phòng giao dịch Lộc Ninh số tiền gốc và lãi đến ngày 21/4/2025 là 33.202.768 đ (ba mươi ba triệu hai trăm lẻ hai ngàn bảy trăm sáu mươi tám đồng).

Đương sự chịu án phí theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT chi nhánh Bình Phước – Phòng giao dịch Lộc Ninh có đơn khởi kiện đối với ông Trần Mạnh C về việc yêu cầu ông C trả số tiền gốc và tiền lãi theo hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 3037441 đã ký kết. Tranh chấp giữa Ngân hàng và ông Trần Mạnh C là tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng ”. Ông Trần Mạnh C cư trú tại huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, nơi ký kết hợp đồng tín dụng là tại phòng giao dịch Lộc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, ông Trần Mạnh C vắng mặt nhưng Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục và niêm yết. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, Đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT chi nhánh Bình Phước – phòng giao dịch Lộc Ninh vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: yêu cầu ông Trần Mạnh C trả số tiền gốc và lãi, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 3037441 (giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân) ngày 23/11/2023 cùng các chứng cứ sao kê lịch sử giao dịch kèm theo của Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT chi nhánh Bình Phước – phòng giao dịch Lộc Ninh đối với ông Trần Mạnh C, thể hiện sau khi được cấp thẻ tín dụng ông C đã thực hiện các giao dịch với số tiền lũy kế là 28.690.000đ (hai mươi tám triệu sáu trăm chín mươi ngàn đồng). Trong quá trình sử dụng, ông C đã thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 8.071.874đồng. Tính đến ngày 21/4/2025 ông C còn nợ Ngân hàng TMCP SGTT số tiền gốc là 24.573.631đồng và lãi là 8.629.137 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 33.202.768 đ (ba mươi ba triệu hai trăm lẻ hai ngàn bảy trăm sáu mươi tám đồng). Nay Ngân hàng yêu cầu ông C trả tiền là có căn cứ chấp nhận. Buộc ông C trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT chi nhánh Bình Phước – phòng giao dịch Lộc Ninh số tiền gốc và lãi là 33.202.768 đ (ba mươi ba triệu hai trăm lẻ hai ngàn bảy trăm sáu mươi tám đồng). Ngoài ra, ông C tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 22/4/2025 cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng trên.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Các Điều 466, 468, 357 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT chi nhánh Bình Phước – phòng giao dịch Lộc Ninh.

Buộc ông Trần Mạnh C trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT chi nhánh Bình Phước – phòng giao dịch Lộc Ninh số tiền gốc là 24.573.631đồng và lãi là 8.629.137 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 33.202.768 đ (ba mươi ba triệu hai trăm lẻ hai ngàn bảy trăm sáu mươi tám đồng). Ngoài ra, ông C tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 22/4/2025 cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng theo hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số 3037441 (giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân) ngày 23/11/2023.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông C phải chịu 1.660.000đ (một triệu sáu trăm sáu mươi ngàn đồng).

Ngân Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT không phải chịu. Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT , phòng giao dịch Lộc Ninh số tiền 635.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006650 ngày 15/10/2024.

3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án (Ngày 21/4/2025) cho đến khi thi hành án xong, bên có nghĩa vụ thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng vay vốn cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng vay vốn các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên có nghĩa vụ thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ