vanban.org

Bản án 07/2024/ST-DS — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 165 và Điều 166của Bộ luật dân sự;

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Trọng H về việc yêu cầu Tòa án buộc anh Lô văn L, chị Lữ Thị N trả lại cho anh Nguyễn Trọng H 01 con bò đực màu đen, trị giá con bò là 20.000.000đ. Về án phí và chi phí tố tụng: Áp dụng điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 2 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Tranh chấp quyền sở hữu tài sản"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 165 và Điều 166của Bộ luật dân sự;
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/ST - DS
Ngày 28/6/2024
“V/v Tranh chấp quyền sở H tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Trần Văn Bảo.

Các hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Hào và ông Bùi Thế Hiền.

Thư kY phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền- Thư kY Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lY số: 03/2024/TLST - DS ngày 20/3/2024 về việc “Tranh chấp quyền sở H tài sản”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST - DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1981 - Có mặt.

Địa chỉ: Bản H T, xã Đ P, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

2. Bị đơn: Anh Lô văn L, sinh năm 1980.

Chị Lữ Thị N, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Bản Q, xã B C, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Phan Như Y, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Thôn T N, xã B K, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt có lY do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 19/02/2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Trọng H trình bày: Năm 2014, con bò mẹ của gia đình anh đẻ được 01 con bò me đực (con bò này hiện đang tranh chấp với anh Lô văn L, chị Lữ Thị N). Bò được nuôi theo hình thức thả rông, anh thường thả ở khu vực Khe Sạn, Bù Lìu dọc đường Khe Ó. Ngày 29/12/2020 thì bò đi lạc và không tìm thấy, đến ngày 24/5/2021 anh có làm đơn trình báo với Công an xã về việc mất bò, nhưng đến tháng 10/2023 có người báo cho anh là con bò của anh bị thất lạc hiện đang ở nhà anh Lô văn L, chị Lữ Thị N. Sau khi nghe tin anh đã vào nhà anh L, chị N xem và thấy có 01 con bò đực giống bò của anh, sau khi thấy bò của mình anh đã xin anh L, chị N chuộc bò về nhưng anh L, chị N không nhất trí. Con bò của anh có đặc điểm: Bò đực to màu đen, đuôi dài, lông rậm; 2 tai có cắt 02 bên (tai bên trái sâu hơn 01 chút), bên trái 5cm, bên phải là 4cm, có 02 xoáy, 01 xoáy giữa trán, 01 xoáy trên u liền về phía sau 1 tY, tai bụng trừ ngoại; có cặp sừng dài 15cm đến 20cm, chóc uồm về phía trước một tY; có 01 dấu hằn dây thừng buộc trên sọc mũi, cách lỗ mũi lên 7cm đến 10cm. Độ tuổi 8 năm tuổi, tính đến năm 2020 thì đã đổ đoạn. Năm 2020, anh H có xâu trẹo cho bò, do không thường xuyên dắt bò nên dấu bị tịt, đến 10/2023, khi anh L, chị N bắt giữ con bò mới xâu trẹo lại. Con bò mẹ gia đình anh đã bán cho người ta và bị giết thịt, nên anh không có mẫu vật để giám định Gen. Nay anh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Lô văn L và chị Lữ Thị N trả lại con bò đực nói trên cho anh. Con bò đực của anh hiện nay có giá 20.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết bị đơn anh Lô văn L, chị Lữ Thị N trình bày:

Tháng 02/2018 gia đình anh chị có nhận nuôi của ông Phan Như Y, ở thôn Thành Nam, xã Bồng Khê 01 cặp bò, đến tháng 4/2018 bò đẻ 02 con me đực. Sau đó ông Y chia cho gia đình 01 con, 01 con ông Y đưa về và anh chị nuôi từ đó đến nay. Khi nhận nuôi con bò từ ông Y, anh chị không làm giấy tờ gì vì tin tưởng ông Y và ông Y cũng đã cho nhiều người trên bản anh chị nuôi bò như vậy. Anh chị nuôi bò theo hình thức thả rông, bò hay ăn dọc theo núi Bù Tàn, Khe Mèo, Khe Tàn, Khe Hù rồi ra đến bản Quăn, khoảng 01 tuần bò về nhà ăn muối 01 lần. Con bò của anh, chị có đặc điểm: Bò đực màu đen, 06 năm tuổi, bị cắt tai bên trái do đánh dấu, tai bên phải có bị rách do đi ăn mắc phải dây thép gai, bò có 05 xoáy, 01 xoáy ở trán, 01 xoáy góc tai bên phải, 01 xoáy ở sau gáy, 01 xoáy ở u và 01 xoáy ở bụng. Ngày 20/9/2023 (âm lịch) anh chị xâu trẹo cho con bò. Con bò mẹ đã bị nhà ông Y bán cho ai thì gia đình anh chị không biết, nên không có mẫu giám định Gen. Nay anh H khởi kiện buộc anh chị phải trả lại con bò, anh chị không đồng Y và anh, chị cũng thống nhất con bò trị giá 20.000.000 đồng.

Ông Phan Như Y người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Đầu năm 2018, ông có đến gặp anh L, chị N để giao 01 con bò mạ và 01 con me cái 02 năm tuổi (hình thức nuôi rẹ). Khoảng 3, 4 tháng sau thì con bò mạ đẻ ra 01 con me đực, lông màu đen còn các dấu vết khác ông không biết. Đến đầu năm 2023 ông đưa bò mạ về, con bò này có đẻ 04 con, 01 con bị chết, 01 con ông chia cho anh L, chị N. Sau này, khi con bò mạ bị thương, ông đã bán cho lò mổ. Ông khẳng định con me đực đang tranh chấp mà anh L, chị N đang nuôi là do con bò mạ của ông đẻ ra và ông đã chia phần cho anh L, chị N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật.

Y kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 158,160, 163, 164, 166 và Điều 221 của Bộ luật dân sự

- Không chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Trọng H, giao con bò đực có đặc điểm như sau: Có 08 răng (bò đổ đoạn), răng còn sắc, chưa bị mòn; 02 tai đều có vết cắt; có 04 xoáy gồm 01 xoáy mặt; 01 xoáy gốc tai, 01 xoáy cổ, 01 xoáy trên đỉnh u; sừng dài 15cm, gốc sừng bị xước, sừng uồm về phía trước; đuôi dài chấm lè; lông bò màu đen; chân, cẳng bình thường; mông lép; bò cao 1,3m – 1,5m; trọng lượng 300kg hơi cho gia đình anh Lô Văn L và chị Hà Thị N nuôi giữ.

- Về án phí: áp dụng khoản 1 Điều 147, Điều 157, điều 158 BLTT DS; khoản 2 điều 26, điểm a khoản 2 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc anh H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn anh Nguyễn Trọng H làm đơn khởi kiện và bị đơn trong vụ án có địa chỉ tại xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Con Cuông theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật:

Nguyên đơn anh Nguyễn Trọng H yêu cầu anh Lô văn L, chị Lữ Thị N trả lại cho anh con bò đực màu đen, 08 năm tuổi trị giá 20.000.000đ nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý vụ án là tranh chấp quyền sở H tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Anh Nguyễn Trọng H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Lô văn L, chị Lữ Thị N trả lại cho anh con bò đực màu đen, 08 năm tuổi.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng: Năm 2014, con bò mẹ của gia đình anh Nguyễn Trọng H đẻ được 01 con bò me đực (con bò này hiện đang tranh chấp với anh Lô văn L, chị Lữ Thị N). Ngày 29/12/2020 thì bò đi lạc và không tìm thấy, đến ngày 24/5/2021 anh H có làm đơn trình báo với Công an xã về việc mất bò, nhưng đến tháng 10/2023 có người báo cho anh H là còn bò của anh bị thất lạc hiện đang ở nhà anh Lô văn L, chị Lữ Thị N. Sau khi nghe tin anh H đã vào nhà anh L, chị N xem và thấy có 01 con bò đực giống bò của anh H, sau khi thấy bò của mình anh H đã xin anh L, chị N chuộc bò về nhưng anh L, chị N không nhất trí.

Trong quá trình giải quyết anh Lô văn L và chị Lữ Thị N trình bày: Tháng 02/2018 gia đình anh Lô văn L, chị Lữ Thị N có nhận nuôi của ông Phan Như Y, ở thôn Thành Nam, xã Bồng Khê 01 cặp bò, đến tháng 4/2018 bò đẻ 02 con me đực. Sau đó ông Y chia cho gia đình 01 con, 01 con ông Y đưa về và anh L, chị N nuôi từ đó đến nay.

Quá trình giải quyết nguyên đơn, bị đơn đều khai đặc điểm của con bò tương đồng nhau. Anh H khẳng con bò của anh sinh tháng 4 năm 2014, cuối năm 2020 bò đã đổ đoạn và bò có 02 xoáy (01 xoáy mặt và 0 1 xoáy ở u). Tuy nhiên qua xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2024 thấy rằng con bò đang tranh chấp vừa đổ đoạn, có 05 xoáy gồm 01 xoáy ở trán, 01 xoáy góc tai bên phải, 01 xoáy ở sau gáy, 01 xoáy ở u và 01 xoáy ở bụng. Như vậy nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ, tài liệu nào để chứng minh cho con bò đang tranh chấp là bò của mình; Nguyên đơn, bị đơn đều không có mẫu bò để xét nghiệm Gen.

Như vậy căn cứ vào lời khai các bên đương sự, cũng như các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án không đủ chứng cứ để khẳng định con bò đực đang tranh chấp là bò của anh Nguyễn Trọng H. Như vậy việc anh Nguyễn Trọng H khởi kiện là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Về án phí: Anh Nguyễn Trọng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 165 và Điều 166của Bộ luật dân sự;

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Nguyễn Trọng H về việc yêu cầu Tòa án buộc anh Lô văn L, chị Lữ Thị N trả lại cho anh Nguyễn Trọng H 01 con bò đực màu đen, trị giá con bò là 20.000.000đ.

Về án phí và chi phí tố tụng: Áp dụng điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 2 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Trọng H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự và 4.700.000đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ (anh H đã nộp đủ). Hoàn trả cho anh H 200.000 đồng trong tổng số 500.000 đồng anh H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông theo biên L số 000596, ngày 20/3/2024.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Cỡ chữ